Tiến sĩ Lê Vĩnh Trương - thuộc Quỹ Nghiên cứu Biển Đông - nói rằng “VN cần cho TQ hiểu họ không thể đơn phương bắt nạt nước khác”.

* Trước thông tin TQ bầu “HĐND thành phố Tam Sa”, VN cần phải làm gì?

- Theo chúng tôi, cần phải có phản bác chính thức về phía ngoại giao như thường lệ đối với hành xử vô lý của TQ. Kế đến, cần thông tin kịp thời để người Việt và đặc biệt ngư dân biết sự leo thang của TQ và nâng cao cảnh giác đối với những sự việc đều đặn và có hệ thống. Bởi sự đều đặn này là ngang nhiên, lì lợm và có tính ru ngủ nhưng sẽ ẩn chứa nguy hiểm lớn nếu chúng ta coi nó là bình thường, một khi có đột biến.

Mượn lời GS Vũ Cao Phan khi trả lời phỏng vấn chương trình Nhất Hổ Nhất Tịch Đàm của đài Phượng Hoàng (Hồng Kông) về việc “Tam Sa” ra đời, chúng tôi thấy cuộc bầu cử này không mang lại khác biệt nào trong chính sách xâm lấn của TQ và chủ quyền VN tại Hoàng Sa và Trường Sa (TS – HS) là không thể thay đổi.

* Luật Biển VN sẽ có hiệu lực vào đầu năm tới, vậy trong thời điểm này VN sẽ căn cứ vào đâu để tố cáo hành vi xâm lược của TQ đối với 2 quần đảo TS - HS?

- Chủ quyền VN trên TS - HS đã được xác lập từ lâu đời theo các chứng cứ lịch sử, pháp lý quốc tế; chủ quyền VN trên biển Đông (theo Hiến chương Liên Hợp Quốc về Luật Biển - UNCLOS) đã nghiễm nhiên được công pháp quốc tế quy định. Công bố và thi hành Luật Biển là công tác lập pháp bình thường nhằm tăng cường cơ sở pháp lý trong nước trong việc xác định và thực thi chủ quyền của VN trên các quần đảo TS - HS và biển Đông.

Trong khi chờ Luật Biển VN có hiệu lực, VN cần dựa vào công pháp quốc tế và pháp luật trong nước đang có hiệu lực để thực thi chủ quyền của VN. Tố cáo hành vi xâm lược của TQ diễn ra khi TQ có hành vi xâm phạm chủ quyền VN được công pháp quốc tế quy định. Việc phản bác TQ trước hay sau khi Luật Biển VN ra đời không khác nhau mà chỉ bổ sung cho nhau.

* TQ chưa bao giờ chấp nhận trọng tài quốc tế trong phân xử tranh chấp biển Đông, họ cũng cố tình chần chừ đàm phán đi đến ký kết Bộ Quy tắc ứng xử trên biển Đông (COC), vậy VN phải làm gì để tạo áp lực đối với nước này khi họ xâm phạm chủ quyền VN?

- Ôn hòa và kiên trì sử dụng UNCLOS và Tuyên bố về ứng xử của các bên tại biển Đông (DOC) cũng như những chứng cứ chủ quyền về TS - HS từ trước đây là cách thức chủ đạo. Ngoài ra, các biện pháp chế tài hành chính như bắt giữ và lập biên bản tàu TQ xâm phạm vùng biển VN là điều cần làm.

Kế đó, thông tin liên tục về tình hình bị xâm lấn ra cho toàn thế giới biết cũng không kém quan trọng. Ghi hình ảnh những hành vi xâm lấn để đề phòng TQ tạo cớ leo thang và chuẩn bị đầy đủ sức mạnh võ trang để đáp trả khi bị tấn công và thông báo cho dư luận quốc tế.  

Ngoài ra, VN cũng cần cho TQ hiểu rõ là trong thời buổi hiện đại, TQ không thể đơn phương bắt nạt nước khác. VN cần hợp tác và kết hợp mạnh mẽ với các nước trên thế giới trong việc phản đối TQ.

* Mức độ xâm phạm chủ quyền VN từ phía TQ đang gia tăng theo hướng quân sự hóa, là những người nghiên cứu về biển Đông, ông nói gì về những phản ứng của Chính phủ VN bấy lâu nay, những phản ứng này đã tương xứng với những vi phạm của TQ chưa?

- Theo chúng tôi, cách ứng xử theo pháp luật và ôn hòa tuy vẫn chuẩn bị cho tình huống xấu nhất là cách phù hợp với thế và lực của VN hiện nay. Để cho đối phương tự vẽ mặt bạo lực cho toàn thế giới và đối phương đánh giá VN thấp cũng là một phần của nghệ thuật biết thắng khi cần thiết. Sức mạnh mềm TQ bị bào mòn, lời lẽ ngoại giao hữu nghị của TQ trở nên mỉa mai cũng là một điểm không hẳn là tiêu cực cho sức mạnh toàn dân VN.

* Báo Lao Động đã có bài viết kêu gọi cần có sự góp mặt của các nước lớn trong việc áp lực TQ ký vào COC, các ông nhìn nhận quan điểm này thế nào và VN phải có những việc làm gì để tranh thủ sự ủng hộ của các nước lớn?

- Một đồng sự của chúng tôi - tiến sĩ luật Lê Minh Phiếu - đã có kêu gọi đưa COC ra bàn Hội nghị thượng đỉnh Đông Á. Sáng kiến này cần có nỗ lực của một số quốc gia ASEAN có tranh chấp. Hiện nay khả năng này là thuận lợi hơn bao giờ hết.

Ngoài ra, trong phạm vi nghiên cứu về địa chính trị, chúng tôi nhận thấy các liên minh sẽ có cơ hội hình thành và phát triển cao nhất khi lợi ích của các bên có sự đồng nhất. Đối tượng càng tỏ ra hung hãn thì càng thúc đẩy quá trình tự nhiên này.

Ý thức của các bên liên quan về không gian sinh tồn, bản năng sinh tồn của dân tộc mình sẽ quyết định mức độ, thời gian và phương cách hợp tác. Dĩ nhiên những liên minh và ràng buộc mang tính điều lệ cũng có cái giá của nó (như EU và ASEAN vừa qua) và giới làm chính sách sẽ phải có quyết định để phục vụ đất nước mình tốt nhất.