1- Về thời gian nghỉ  phép hằng năm:
a- Đối với người làm việc đủ 12 tháng/năm: Theo Điều 74 Bộ luật Lao động (BLLĐ), người lao động (NLĐ) có 12 tháng làm việc tại một DN hoặc với một người sử dụng lao động (NSDLĐ) thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương theo quy định sau đây:
- 12 ngày làm việc, đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường.
- 14 ngày làm việc, đối với người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc ở những nơi có điều kiện sinh sống khắc nghiệt.
- 16 ngày làm việc, đối với người làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm ở những nơi có điều kiện sinh sống khắc nghiệt.
Thời gian đi đường ngoài ngày nghỉ hằng năm do Chính phủ quy định.
b- Số ngày nghỉ phép hằng năm của NLĐ được tăng thêm theo thâm niên làm việc tại một doanh nghiệp hoặc với một NSDLĐ, cứ 5 năm được nghỉ thêm một ngày (Điều 75 BLLĐ).
c- Đối với người làm việc không đủ 12 tháng/năm: Theo khoản 2, Điều 77 BLLĐ, NLĐ có dưới 12 tháng làm việc thì thời gian nghỉ hằng năm được tính theo tỉ lệ tương ứng với số thời gian làm việc và có thể được thanh toán bằng tiền.
2- Về lịch nghỉ phép hằng năm (quy định tại Điều 76 BLLĐ):
- Người sử dụng lao động có quyền quy định lịch nghỉ hằng năm sau khi tham khảo ý kiến của BCH công đoàn cơ sở và phải thông báo trước cho mọi người trong DN.
- NLĐ có thể thoả thuận với NSDLĐ để nghỉ hằng năm thành nhiều lần. Người làm việc ở nơi xa xôi hẻo lánh, nếu có yêu cầu, được gộp số ngày nghỉ của 2 năm để nghỉ một lần; nếu nghỉ gộp 3 năm một lần thì phải được NSDLĐ đồng ý.
-  NLĐ do thôi việc hoặc vì các lý do khác mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm, thì được trả lương những ngày chưa nghỉ.