Đó là lĩnh vực Khoa học Tự nhiên (vị trí 61) và Khoa học Sự sống và Y sinh (vị trí 84) của Đại học Quốc gia Hà Nội. Lĩnh vực Khoa học Tự nhiên của Đại học Quốc gia TP HCM cũng lọt vào top 100 (vị trí 93). Bên cạnh đó, hai lĩnh vực khác là Công nghệ và Kỹ thuật (Engineering and Technology) và Khoa học xã hội và Quản lý (Social Sciences and Management) của ĐHQG Hà Nội vẫn tiếp tục nằm trong top 200 của Châu Á.

Về tổng thể, Đại học Quốc gia Hà Nội xếp đồng hạng ở nhóm 201-250 (vị trí  213) trong các trường đại học Châu Á. Cần lưu ý rằng, châu Á có số lượng trường đại học đông đảo, khoảng 6500 trường, chỉ kém Châu Mỹ.

Trong bảng xếp hạng SCImago (http://www.scimagoir.com/) năm 2011 về 3.000 cơ sở nghiên cứu mạnh trên thế giới, hai ĐHQG cùng với Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam cùng có tên trong danh sách.

Trong các bảng xếp hạng đại học nói chung, thành tích nghiên cứu, đặc biệt là các công bố quốc tế trong hệ thống tạp chí ISI và Scopus có trọng số rất quan trọng. Trong điều kiện kinh phí nghiên cứu khoa học cho hai ĐHQG còn thấp hơn rất nhiều so với chuẩn mực khu vực, các kết quả xếp hạng trên rất đáng khích lệ. Cũng cần thông tin thêm rằng, theo số liệu của QS, uy tín học thuật (academic reputation) của ĐHQG Hà Nội đã và đang được khẳng định trong giới học giả quốc tế (ở thứ hạng 103 của Châu Á).

Được biết, ĐHQG Hà Nội đang có chủ trương phát triển theo định hướng đại học nghiên cứu tiên tiến. Tỉ lệ cán bộ khoa học (giảng viên và nghiên cứu viên) trên tổng số sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh đã đạt được 1/15. ĐHQG Hà Nội không tăng quy mô đào tạo đại học chính quy, giảm quy mô đào tạo đại học không chính quy khoảng 20%/năm, để tăng qui mô đào tạo sau đại học và không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo.

Hiện nay, qui mô đào tạo sau đại học đã vượt mức 25% tổng qui mô đào tạo. Số lượng sinh viên quốc tế đến học tập và trao đổi hơn 3%. Cán bộ khoa học của ĐHQG Hà Nội đã đạt được nhiều giải thưởng quốc gia, quốc tế, trong đó có 15 Giải thưởng Hồ Chí Minh và 24 Giải thưởng Nhà nước. Năm 2010, sinh viên ngành Toán được xếp thứ 20/94 nước dự Olympic Toán thế giới. Nhiều năm liên tục, tại các cuộc thi Olympic quốc tế về lập trình (ACM/ICPC) sinh viên ngành công nghệ thông tin luôn thuộc trong nhóm 100  trường đại học danh tiếng thế giới.

QS là một tổ chức xếp hạng đại học thế giới. Trước 2010, QS liên danh với tờ Phụ trương của Thời báo Giáo dục Đại học (Time Higher Eduction Surplement) của Anh Quốc để công bố bảng xếp hạng chung QS-THES. Tuy nhiên, từ 2010 đến nay 2 tổ chức này công bố độc lập các bảng xếp hạng là bảng xếp hạng QS và bảng xếp hạng cua THE.  

Bảng xếp hạng của QS là một bảng có các tiêu chí xếp hạng được đánh giá là khá cân bằng, không thiên vị quá mức các đại học nghiên cứu. Đồng thời, các tiêu chí này phản ánh được xu thế quốc tế hóa trong giáo dục đại học và quan điểm tiếp cận về chất lượng giáo dục nhìn từ góc độ các nhà tuyển dụng. Mặc dù vậy, kết quả xếp hạng trong bảng hạng của QS có sự phù hợp khá cao với Bảng xếp hạng của ĐH Giao thông Thượng hải khi so sanh top 100 trường.