Bán hàng trên phố
Chủ Nhật, 17.9.2006 | 06:50 (GMT + 7)
Ra nghề
Làm bồi ở tiệm càphê Highlands là một giai đoạn đáng nhớ vì tôi quen hầu hết nhân viên trong thương xá Tax, cũng như những đứa bụi đời ở khu xung quanh đó. Nói là bụi đời thì cũng chưa mấy chính xác vì tụi nó thường là dân ở khu cầu Ông Lãnh hay Q.4 và tất nhiên có gia đình đàng hoàng, chỉ có điều nghề nghiệp chính của chúng cũng như ba mẹ chúng là nghề bám đường phố là nhà. Lê la cả ngày trước ca làm và sau ca làm cùng những đứa trẻ đường phố và chị Oanh hay cô Hoa bán thuốc lá, tôi dần hiểu được cái thế giới dành cho những đứa trẻ phường Bến Nghé là như thế nào, từ những mánh khoé trong nghề đến nghệ thuật dụ khách.
Chúng đủ mọi lứa tuổi, nhưng điểm chung là nói tiếng Anh và tiếng Nhật rất cừ, bán hàng thì cực kỳ điệu nghệ. Tất nhiên, tham gia đội quân này có cả những người lớn hơn, nhưng những em từ 10-20 là lực lượng chủ đạo. Chúng bán hàng lưu niệm, vài ba món sơn mài nho nhỏ, mấy cái bưu ảnh... Chị Oanh cho rằng bán sách là lời nhất. Ví như một cuốn hướng dẫn du lịch của Lonely Planet lấy vốn chỉ có 30 nghìn, nhưng khi bán có thể hét 20 USD. Nghe hấp dẫn quá và lại nổi máu phiêu lưu, tôi theo chị Oanh tìm đến nhà chú C. - đầu nậu sách chui ở đường Alexander Rhodes.
Chú C. nhìn tôi chằm chằm như muốn hình dung xem thằng nhóc này vào nghề như thế nào. May mà có chị Oanh đỡ lời tôi là cháu chị dưới quê lên, nên ánh mắt dò xét mới tạm dịu xuống. Tôi trở ra với 30 cuốn sách đủ loại mà theo lời của chú C. thì bán chạy lắm. Có thể kể ra vài cuốn như: "Nỗi buồn chiến tranh", "Người Mỹ trầm lặng", "Khi trời đất đổi thay"..., tức là những cuốn về đề tài chiến tranh. Và tất nhiên không thể thiếu "Lonely Planet" - kim chỉ nam dành cho dân du lịch.
Tối hôm đó, bé Nụ và bé Thủy hướng dẫn cho tôi ra nghề. Tụi nó có địa bàn chính là khu quán bar Mèo Con và kem Bạch Đằng, nhường cho tôi khu Khách sạn Kim Đô. Thực ra khu này là khu hẻo nhất vì khách xuống xe đi thẳng vào khách sạn còn khách từ khách sạn ra thì lại chẳng có hứng mua. Khu hẻo vậy mà vẫn có chủ. Ngày đầu cũng chẳng phải là ngày tốt lành gì. Tôi đứng xớ rớ, một phần mắc cỡ nên không dám làm ăn gì. Thôi thì thấy cũng vui nhưng cứ ngại ngại. Chị Oanh bán thuốc lá thì cứ an ủi động viên, thôi thì đành cố vậy. Để nhớ xem, lúc đó cũng đã gần 7 giờ tối, là giờ thương xá và khu Bến Nghé bắt đầu đông vui. Vị khách đầu tiên của tôi là một ông già người Bỉ. Ông nhìn vào chồng sách tôi đang ôm làm tôi có hứng cất tiếng mời.
Hê lô sơ. Phíp tin đôla. Búc. Sơ!
Câu đầu tiên nguyên văn là như thế: "Hello, sir. 15 dollars. Book. Sir" (Chào ông. 15 đô. Sách. ông ơi!". Tôi nói bồi vì e rằng cái thứ tiếng Anh bài bản mình vẫn nói hàng ngày sẽ làm khách ngại. Nói thật thì ngay cả những đứa bé bán dạo nói tiếng Anh chuẩn thật chuẩn nhưng cũng chỉ là ghép từ thôi. Nên cái sợ của tôi hoàn toàn là có cơ sở. Ông khách nhìn một lượt và hỏi tôi xem thích cuốn nào nhất. Lưu ý : Đây là câu mà khách hay hỏi người bán hàng nhất và câu trả lời thường có của tụi nó là "Quiet American. Continental Hotel. Cinema Good. Good!" ám chỉ cuốn "Người Mỹ trầm lặng" hay và đã dựng thành phim quay trước khách sạn Continental. Không tin bạn có thể giả làm khách nước ngoài để kiểm chứng lại.
Tôi suýt nữa cũng nói như thế. Nhưng tôi đã không nói về "Người Mỹ trầm lặng", mà là: "I recommend you the book titled "When Heaven and Earth Changed Place" by Le Ly Hayslip. As seeing it on screen by Oliver Stone, it was a true story bout a woman suffered from war. Really touched. I must say!" (Tôi khuyên ông nên mua cuốn "Khi đất trời đổi thay" của Le Ly Hayslip. Cuốn này đã được Oliver Stone dựng thành phim. Đó là câu chuyện thực về người phụ nữ bị chịu đựng vì chiến tranh. Tôi thấy cảm động lắm!). Và dù là ông khách vẫn còn tròn mắt nhìn thì ít ra tôi cũng vui vì đã bán được cuốn đó với giá 25 đô. Lời!
Đêm đó vui không ngủ được và thầm tính trong đầu ngày nào cũng được một cuốn vầy thôi cũng sướng rồi. Nhưng ngày hôm sau không như ta đợi..
Tôi chạm mặt Quang què, hay còn gọi là Q pêđê. Nó bị bại liệt, đi lại phải chống nạng, nhưng lúc nào cũng son phấn. Quang bán ở khu vực Givral góc Nhà hát Thành phố và khách sạn Continental. Khu này cũng là khu thơm. Tôi đụng hắn khi đang kèo nài đám khách Hà Lan đi vừa thăm địa đạo Củ Chi về. Lừ mắt! Tôi biết mình đã bị ngắm. Nó hất hàm theo kiểu ma cũ: "Ở đâu ra?". Im lặng là vàng và cũng vì kiêu hãnh, nên tôi không trả lời. Nhìn xung quanh mình là những người lạ không mấy thiện cảm. Tôi biết mình đã phạm sai lầm là đi xa quá khu vực của mình...
Một nghề như mọi nghề
Cái nghề bán dạo này cũng cực lắm chứ chẳng chơi, ngày hôm đó ròng ra cả ngày mà chẳng bán được gì. Chị Oanh nói phải gạ du khách để làm guide (hướng dẫn viên), rồi môi giới tour cho mấy hãng rẻ tiền, hay móc nối cho mấy tiệm bán đồ lưu niệm lấy hoa hồng. Và thế là tôi biết thêm những công việc phụ của cái nghề bán dạo. Gặp khách là sán lại hỏi: "Ông bà muốn biết chỗ nào mua đồ rẻ hông? Tôi chỉ chỗ cho rồi muốn cho bao nhiêu cũng được". Giá của cái cho bao nhiêu là tiền dư thối lại. Thôi thì cũng được! Riết rồi biết hết chỗ nào rẻ, chỗ nào có hoa hồng và chỗ nào thì dễ bị đuổi đi. Nghề dạy nghề mà. Thậm chí khi khách hỏi chỗ nào massage du hí thì cũng chỉ được. Bây giờ nhắc lại thấy tội lỗi quá.
Thấy mấy đứa kia làm thì mình cũng ham ghê, phải nói là tụi nó nhạy quá và lại có khách quen nữa. Đi lần trước kêu tụi nó làm guide, lần này đến nơi là gọi cho tụi nó ra thẳng sân bay đón. Như vậy là vô mánh. Có khi được cả trăm đô. Cái hỉ - nộ - ái - ố của cuộc sống hè phố cứ rõ mồn một ngay cả những góc tối nhất và ít ai ngờ nhất.
Kể về khách của tôi thì nhiều vô kể, khách du lịch mà, có vài người tò mò hỏi về gia cảnh thì cũng ráng kể chuyện cổ tích nghe cho vui tai và thương cảm. Dù là bán hàng rong, nhưng bạn biết không mỗi khi Nhà hát Thành phố tổ chức chương trình cũng ráng cùng đám lít nhít chen chân đi coi, vui nổ trời. Nhớ có lần làm sinh nhật con Thuỷ, cả đám kéo nhau ra kem Bạch Đằng mua kem cây ăn. Và cũng cần nhắc lại là cả đám không nghèo. Trừ tôi ra, những đứa còn lại dù kiếm khá lắm nhưng cũng vẫn phải mang tiền về cho ba má. Và những hoàn cảnh đó cũng khá thương tâm. Có người vươn lên, có người chìm xuống. Cảnh đời trôi nổi mà ai biết ra sao. Có nhiều lần dẫn khách đi, ôm theo hộp sách dạo gặp bạn quen mà không biết làm sao hết. Và cũng có những vị khách khiếm nhã không chừng, ở đâu mà chẳng thế. Và tôi cũng gặp không hiếm trường hợp nhiều đứa trẻ đã sa ngã, cũng chỉ vì chúng quá trẻ, và cuộc sống thì già hơn rất nhiều.
Tôi chia tay những ngày tháng ấy sau 3 tháng ngắn ngủi, chỉ đủ để hiểu phần nào cuộc sống nơi này. Ơ cái đô thị sầm uất này, thời thế tạo ra tiêu cực nhưng thời thế cũng góp phần làm ló cái khôn. Trong khi những tệ nạn như móc túi, trộm vặt vẫn còn nhan nhản, thì những đứa bé bán dạo lẽ ra không nên bị đánh đồng vào thành phần bất hảo như vậy. Hãy thử hỏi những du khách đến Việt Nam về đội ngũ bán dạo ấy, bạn sẽ nhận được sự cảm phục về sự tự tin, kiến thức và sự thân thiện của một bộ phận người Việt Nam. Không cần nhiều những bích chương quảng bá với hình ảnh to tát, những nụ cười tươi hiển hiện trên mỗi gương mặt sương gió của các em mang lại cho du khách cảm nhận rõ nét nhất về Việt Nam. Và dù đó vẫn là cái nghề chưa được thừa nhận, nhưng tôi chắc chắn là nó lương thiện.
Đã lâu rồi, công việc cuốn đi, thi thoảng ghé vào chị Oanh bán thuốc lá, anh Hải xe ôm và mấy đứa nhóc chơi, thấy guồng sống ở đây vẫn hối hả lạ thường. Tôi được biết Thuỷ hiện nay đang làm tiếp viên cho bar Mèo Con. Nó gầy lắm và cũng sa ngã rồi. Nụ xin làm cho shop Nguyên, bán hàng lưu niệm trong Thương xá Tax. Quang què bị bắt cải tạo mấy lần. Nghe nói đã về quê nội ở An Giang. Chị Oanh vẫn vậy, ở chỗ cũ trước Kim Đô. Thời gian có trôi đi, nhưng tình cảm mọi người dành cho thằng sinh viên điên khùng ngày xưa vẫn vậy. Bây giờ thì họ đều biết ngày xưa tôi đi làm không phải vì tiền mà vì cái gì lạ lắm. Tôi kể cho vài người bạn nghe, vài đứa bắt gặp thì hết ngỡ ngàng rồi lại bảo tôi điên. ƯÂ! Có lẽ thế. Có một lý do nào đó lý giải cho tình yêu của tôi đối với Sài Gòn không? Có lẽ không, vì thật khó có lý do chính đáng cho một chút gì bình dị...