Cạn kiệt tài nguyên
Thứ Năm, 22.10.2009 | 08:01 (GMT + 7)
Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên chua chát: “Có nhiều doanh nghiệp “tay không bắt giặc”, không đủ năng lực cả về tài chính, thiết bị, công nghệ, kinh nghiệm nhưng vẫn dễ dàng được cấp mỏ, khai thác bằng công nghệ lạc hậu, lãng phí tài nguyên vô cùng. Nếu cứ để tình trạng khai thác bừa bãi như hiện nay thì trong tương lai không xa, đất nước sẽ có nguy cơ hết tài nguyên”.
Có thể nói, việc các địa phương cấp phép khai thác tài nguyên rồi xuất khẩu quặng thô ồ ạt gây bức xúc trong xã hội, chả khác nào việc cấp phép xây dựng sân golf trong thời gian qua. Thế nhưng sân golf thì còn có thể cải tạo được, nhưng tài nguyên mất đi thì không bao giờ tái tạo được. Chỉ cần một sự tính toán nhỏ đó là, nếu như Trung Quốc, Thái Lan, Campuchia hoàn thành xong 14 đập thủy điện trên sông Mêkông thì lượng phù sa về Đồng bằng sông Cửu Long sẽ mất đi 40%.
Để bù lại khoảng thiếu hụt được ưu đãi từ thiên nhiên, duy trì được sản lượng nông nghiệp của khu vực này chắc chắn chi phí cho đầu vào sẽ lớn hơn rất nhiều và như vậy, rất có thể người nông dân trồng lúa sẽ không còn lãi, hoặc lãi rất thấp. Đó là chưa kể tới việc nếu không có tài nguyên thì sẽ không thể phát triển được các ngành công nghiệp, ví như không có titan thì không thể chế tạo được một số thiết bị quan trọng cho ngành hàng không. Thế nhưng, chúng ta lại đang khai thác titan một cách bừa bãi và bán với giá rẻ mạt ở Bình Thuận.
Trên thế giới có lẽ Trung Quốc là nước lo xa nhất, họ dự tính đến năm 2050, nguồn tài nguyên của thế giới sẽ rất khan hiếm vì bị khai thác cạn kiệt, vì vậy từ nhiều năm qua, Trung Quốc đã áp dụng chính sách mua rất nhiều tài nguyên của thế giới về trữ thành các mỏ nhân tạo, để đến khi thế giới không còn nữa thì họ vẫn có nguyên liệu để sản xuất.
Ngoài việc thất thu ngân sách do lãng phí tài nguyên trong khâu khai thác và xuất lậu quặng thô thì còn một thực tế nữa, đó là việc kiểm soát sản lượng khai thác thực tế của cơ quan chức năng đối với các doanh nghiệp khai thác còn nhiều sơ hở, bất cập, chưa bảo đảm hiệu quả quản lý, dẫn đến sản lượng kê khai thuế không đúng với sản lượng khai thác thực tế, gây thất thoát lớn cho ngân sách nhà nước.
Nguyên nhân này cũng do chúng ta chưa có quy định nào về định mức sử dụng tài nguyên, vì vậy lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ là do doanh nghiệp tự kê khai, không có cơ chế kiểm soát. Vì vậy, việc xác định chính xác sản lượng tài nguyên khai thác để tính thuế trong trường hợp này là khó khả thi. Để đất nước có điều kiện phát triển bền vững, con cháu chúng ta có điều kiện xây dựng đất nước hùng mạnh, có lẽ ngay bây giờ, đất nước chúng ta cần phải có một đạo luật quản lý thật chặt chẽ về tài nguyên để giải quyết tất cả những vấn đề nêu trên.