Cây tiêu huyền dưới chân đèo Tô Na
Thứ Hai, 8.3.2010 | 08:03 (GMT + 7)
Nhiều cái phải bỏ ra nhưng chuyện Ma Thanh thì phải cất. Hai buôn Fùm Ang, Fùm Ji có nó cũng như có hòn đá bản mệnh, không nói quá đâu!" - già làng mở đầu câu chuyện bằng những lời ấn tượng như vậy và điều này có lẽ đã cho tôi một đảm bảo sự thật về con người được truyền tụng ở vùng đất Krông Pa này...
I. Người hai buôn Fùm Ang, Fùm Ji vẫn còn nhớ rất rõ giữa mùa rẫy năm 2000 có một người đàn ông dắt díu vợ con đến dải đất hoang dưới chân đèo Tô Na dựng nhà. Lần đầu tiên có người Kinh đến ở lẫn với mình, ai trong buôn cũng tìm cớ đi qua dòm một tí... Ô thì ra chẳng phải ai xa lạ, nó là Ma Thanh! Dân làng cùng biết tên là bởi Thanh đã làm đúng cái bụng buôn làng. Chuyện mới mùa rẫy năm ngoái đây thôi...
Người Jrai dưới chân đèo này từ đời ông bà chỉ biết làm cây lúa rẫy. Đất đai thì nhiều đấy, nhưng nắng gió vắt kiệt nó rồi. Cây lúa rẫy trồng lên cứ ngày mỗi gầy như con gái mất chồng. Lại mỗi năm chỉ được một vụ nên hột lúa như có chân. Cứ buông cuốc được vài tháng là nó chạy đâu mất... Cũng được trời cho cái chân, cái tay như ai mà chịu đói, nghĩ cũng xấu hổ nhưng biết làm sao. Cán bộ xã, rồi huyện, nhớ không hết lời nói nhưng rồi có thấy ai giúp được gì. Cũng cứ “tai no bụng đói” miết thôi!
Nhưng Thanh không nói cây lúa rẫy mà nói làm lúa nước. Bữa rượu bây giờ mới như nồi nước đến lúc sôi. Người bảo: Yang H’ri (Thần lúa) của người Jrai xưa nay ở trên rẫy, đưa xuống nước thì Yang H’ri chết đuối, đói lại càng thêm đói. Người ít theo lệ ông bà nhất cũng đưa ra hàng sải tay cái khó: Nào thì hai buôn chỉ được rẻo đất ven suối, làm lúa rồi thì mùa khô lấy đâu ra chỗ cho con trâu, con bò đi chơi.
Lại lấy giống đâu để trồng, phân đâu để bón. Cái chân, cái tay người hai buôn làng đâu có chịu được dơ mà lội xuống bùn... Những cái khó đưa ra cứ ngỡ làm Ma Thanh nổi bực, nhưng nó cứ cười như không “Coi như bà con làm giúp Thanh đi. Thanh chịu hết phân, giống cho những ai chịu làm. Nếu Yang H’ri phạt, Thanh sẽ đem hết tài sản ra đền, được không?” - Ma Thanh hỏi.
Đến thế thì còn chối vào đâu được nữa... Hể hả chúc rượu, bắt tay nhau rồi, cứ tưởng sáng ra là cả buôn sẽ theo ngay, nào ngờ cả tuần đi từng nhà nói rát cả họng cũng chỉ được 5 người làm. Thế nhưng cứ thấy Thanh tươi cười như không. Từ sáng đến tối mịt họ hì hụi đắp đập, be bờ. Nhìn không khác con trâu vẫy dưới bùn thì đủ thấy cái khổ, vậy mà chẳng biết Thanh nói thế nào, mặt ai cũng như được uống rượu mời. Cảnh ấy khiến trong buôn bụng ai cũng như ăn trái rừng lúc đói, cứ như mình cùng cái vía với 5 người theo Thanh...
Rồi thì bốn con trăng đi qua... Cái hôm Thanh gặt lúa, cả hai buôn đi coi không sót một người. Nhìn vạt lúa như chọn từng bông mà cắm, ai cũng ngơ ngác như con mang lạc xuống làng. Thanh cho gặt thử nửa sào. Được đến 8 bao lúa - gấp tám lần đám rẫy tốt nhất. “Lệ người Kinh cũng như Jrai ta, có lúa mới phải ăn cơm mới. Hôm nay Ma Thanh mời bà con về nhà uống rượu”.
Biết là nó khéo lấy cớ để vận động nhưng mà phải quá, từ chối sao được. Thanh chưa kịp nói, người người đã nhao nhao đòi bày cách làm lúa nước... Một khúc củi đã ăn lửa, khúc nằm bên làm sao không ăn. Cái bếp tự đời ông bà đâu chẳng thế. Không một mẩu ruộng nước, hai buôn làm dần ra được 21ha... Con người ta đói thì con mắt nhìn xuống, no con mắt nhìn lên. Biết vậy, Thanh nhân cơ hội bàn sang chuyện trồng cây bông...
Ờ cây bông thì chẳng lạ, nhưng người Jrai xưa chỉ trồng chơi ven rẫy, đủ để dệt khố áo thôi. Trồng cả loạt biết nó có chịu cho không? Lại nói có nhà máy mua cho nhưng đã chắc đâu? Cây bắp, cây mì không bán được thì để ăn dần. Bông không bán được thì chỉ có nước để con trâu, con bò làm ổ.
Biết mọi người vẫn lừng khừng như thấy cái ngã ba, Thanh lại tự mình làm trước. Vụ đầu trồng 1ha, thu được hơn 3 tấn. Được quá, vụ sau làm luôn 4ha, lời hơn 30 triệu đồng... Mười người đàn ông khoẻ làm rẫy suốt một năm cũng không được thế. Chuyện rõ như cái bóng mình trên vách rồi! Chỉ vất vả cho Thanh, ngày ngày phải đi từng rẫy chỉ cách làm. Tám hộ nghèo nhất Thanh mua cho hạt giống, lại đưa 8 con bò của mình cho chăn để lấy phân, hứa nếu bò đẻ thì chia cho một nửa để làm vốn...
Cái đất Yang H’ri cũng muốn bỏ đi hoá ra lại thật hợp cây bông. Rẫy có nghèo mỗi vụ cũng thu 2-3 tấn. Hết năm đầu đã có người mua được tivi, xe máy. Lúc Thanh mới về, hai buôn chỉ có 6 cái nhà tôn cũ. Vậy mà không đầy 5 năm trồng cây bông, nhà ai cũng sáng choang tôn mới. Đêm đêm tiếng xe máy lũ thanh niên khua động đường buôn... Cứ ngỡ có con đường quang như vậy rồi thì không ai quáng con mắt nữa. Con người ta lạ thế đấy...
Năm 2001 Tây Nguyên xảy ra sự lộn xộn nhưng Fùm Ang, Fùm Ji có Ma Thanh nên dân làng vẫn chăm chỉ làm ăn. Bất ngờ sang năm 2004, cái “tin lành Đê ga” bỗng từ đâu rớt xuống. Hỏi dò, hoá ra là Nay Sáu ở buôn Fùm Ang tha về. Nó đi tuyên truyền rằng hễ ai theo cái “đạo” này thì trồng lúa lúa tốt, nuôi bò bò đẻ nhiều. Cái chân, cái tay chỉ biết làm việc tốt. Mai mốt chết không phải xuống làng ma lạnh lẽo của ông bà mà có máy bay chở đến thiên đường...
Thoạt đầu chỉ một, hai người theo, sau lan ra đến gần ba chục nhà. Họ họp nhau đọc kinh, chủ nhật kiêng việc; bịt tai không nghe cồng chiêng, chế giễu người theo lễ tục ông bà... Ma Thanh buồn lắm, nói: “Bà con mình thấy trái dại treo trên ngọn cây cao, tưởng ăn được nên chót trèo đó thôi, không phải vì bụng xấu đâu”. Hiểu vậy rồi Thanh phân công nhiệm vụ cho từng cán bộ thôn, còn mình thì nhận việc khó nhất là vận động Nay Sáu.
Ngày ngày Thanh sang rẫy Sáu làm giúp, nói điều phải trái cho Sáu hiểu. Bấy giờ Sáu mới thú thực là do bọn phản động xui. Chúng hứa cứ làm rồi sẽ cho tiền. Gia đình khó khăn nên Sáu nhắm mắt làm liều... Thanh bỏ tiền giúp Sáu thuê máy ủi mở ruộng nước, bày cho cách làm ăn. Quả nhiên là sau vài vụ, nhà Sáu khá hẳn. Bụng no thì cái đầu cũng sáng, Sáu tự giác kiểm điểm trước bà con hai buôn, tuyên bố từ bỏ cái “tin lành Đê ga”. Sáu nói rõ cái đạo bậy rồi thì còn ai theo nữa. Fùm Ang, Fùm Ji hết cái rình ám mọi người...
II. Chờ đến mặt trời tắt nắng Ma Thanh mới về. Cởi chiếc áo đẫm mồ hôi anh phân trần “ráng tưới cho xong đám bắp nên để anh phải chờ. Năm nay tôi trồng bắp trái vụ thử xem, hoá ra rất tốt. Mỗi hécta chắc sẽ lãi không dưới 15 triệu đồng. Thành công này sẽ lại giúp bà con trong buôn có thêm nguồn thu mới...”.
Bắt đầu câu chuyện, tôi đã có cảm giác miền đất này với anh như là duyên nợ... Anh vốn tên là Đặng Ngọc Giang, Thanh là tên của đứa con gái cả (đồng bào ở đây vẫn lấy tên con đầu lòng gọi thay cha mẹ). Hồi chống Mỹ, Đặng Ngọc Giang là lính mặt trận B3. Sống chết với mảnh đất này cho đến ngày giải phóng anh mới xuất ngũ. Năm 1984 từ quê hương Thái Bình, Đặng Ngọc Giang trở lại Tây Nguyên, trong dòng người đi kinh tế mới với lưng vốn chỉ vỏn vẹn 27 ngàn đồng...
“Cuộc sống của tôi lẽ ra không chỉ thế này nếu không gặp quá nhiều bất hạnh” - giọng anh như nghẹn lại... Thanh - con gái đầu lòng của vợ chồng tôi đó - bị nhiễm chất độc da cam lúc mới lọt lòng. Cứ ngỡ số phận giáng hoạ một lần cũng đã quá đủ, nào ngờ lần lượt cả 3 con gái tiếp theo cũng bị luôn. Cuộc đời đến thế thì còn ý nghĩa gì nữa, tôi chán nản bỏ đi đãi vàng. Tiền kiếm được chẳng những không đủ nuôi thân mà nhiều lần còn bị sốt rét tưởng chết. Thế nhưng, cứ hết cơn là tôi lại ra đi. Đi cho khuất nỗi đau.
Ba năm liền lang bạt, mãi cho đến khi vợ tôi có thai cháu thứ năm. Một buổi chiều, tôi không bao giờ quên được... Đang ngồi bó gối ở xó lều chờ tạnh mưa thì anh bạn đào vàng bên nhà tôi hộc tốc chạy đến báo tin là vợ tôi đã sinh con trai khoẻ mạnh, hoàn toàn không có dị tật gì. Giữa cơn mưa như xối nước, tôi băng rừng chạy bộ một mạch về nhà. Niềm hạnh phúc vô bờ khiến tôi như muốn phát điên. Từ hôm đó tôi bắt đầu đặt cho mình một kế hoạch làm ăn thật quyết liệt.
Từ sáng tinh mơ đến nhọ nhem mắt người, chưa ai thấy tôi vắng bóng một ngày trên rẫy. Chỉ riêng thuốc lá, mỗi vụ tôi đã thu trên hai tấn. Thấy tôi làm ăn giỏi, bà con tín nhiệm bầu làm Phó Chủ tịch rồi Chủ tịch Hội Nông dân xã. Tuy thu nhập mỗi năm đã đạt hơn trăm triệu, tôi vẫn chưa chịu bằng lòng. Nhìn khắp xã chỉ còn vùng đất dưới chân đèo này là còn mở rộng được sản xuất, tôi mua luôn 4ha. Thấy tôi có ý định dời nhà về đó, Đảng uỷ xã Ia Rsươm giao luôn nhiệm vụ phụ trách hai buôn Fùm Ang, Fùm Ji...
Vẫn biết là hai buôn phong trào yếu nhất xã nhưng bắt tay vào việc, tôi không ngờ lại yếu đến thế. Các ban ngành, đoàn thể đủ đấy nhưng chỉ là hình thức. Cán bộ trình độ kém không triển khai được nhiệm vụ trên giao, nói dân không nghe. Tôi phải củng cố lại tất cả, từ chi bộ đến các đoàn thể rồi tự mình đứng mũi chịu sào, phong trào mới bật lên như ngày hôm nay...
Bằng một giọng trầm ấm, Đặng Ngọc Giang chậm rãi: “Tình yêu tôi như cây tiêu huyền hai nhánh/ Một nhánh vừa khô khi một nhánh đâm chồi...”. Sự xúc động của anh đã lan sang tôi, ngỡ như lần đầu mới được nghe bài thơ tuyệt vời này...
Gió từ đèo Tô Na đã sởn lên trong hoàng hôn tím sẫm. Tôi như nghe trong gió vị mồ hôi cháy hết mình của một con người...