Chữ tâm ông giáo làng
Thứ Bảy, 18.11.2006 | 07:18 (GMT + 7)
Không chỉ dạy học vô điều kiện, vợ chồng ông Nguyên - bà Hiếu còn chắt chiu những đồng tiền kiếm được bằng sức lao động của tuổi 73 để chăm lo cho công việc "trồng người".
Nhịp cầu đưa trẻ đến trường
Ngôi nhà nhỏ của vợ chồng ông Lê Sỹ Nguyên, bà Trần Thị Hiếu nằm nép mình khiêm tốn bên con sông Hà Thanh, thuộc khu vực 7 phường Nhơn Bình, thành phố Quy Nhơn. Đây còn là lớp học của 40 đứa trẻ từ 6 - 15 tuổi, con em của dân nghèo các khu vực 6,7,8 phường Nhơn Bình và các xã phía đông của huyện Tuy Phước.
Ông Nguyên dạy cùng một lúc theo 3 chương trình từ lớp 1 đến lớp 3, bắt đầu từ 7 giờ sáng và kết thúc lúc 11 giờ trưa. Đây là lớp học tình thương do Trường Tiểu học số 2 Nhơn Bình tổ chức từ năm 1991. Ông Nguyên nhớ lại: "Một hôm, thầy Nguyễn Đức Bảo (Phó Hiệu trưởng nhà trường - NV) gặp tôi nói có việc lớn muốn nhờ. Nghe thầy nói đang có chương trình phổ cập giáo dục tiểu học để xoá mù chữ và đưa trẻ thất học hoà nhập với trường chính quy, tui ưng liền. Vậy là có lớp học này".
Với uy tín của một gia đình có truyền thống giáo làng, việc ông Nguyên vận động các gia đình nghèo cho con em đến lớp học tình thương không khó lắm. Mục tiêu của ông là giúp những đứa trẻ không biết chữ theo kịp chương trình lớp 3, vượt qua một kỳ thi "tuyển sinh đặc biệt" để vào các trường tiểu học ở Quy Nhơn, Tuy Phước.
Những năm đầu, ông Nguyên dạy tới gần 100 đứa trẻ gồm 4 lớp; sáng, ông dạy lớp 1 và lớp 2; chiều đến lượt lớp 3 và lớp 4. Đặc biệt là có nhiều học sinh ở Trường Tiểu học số 2 Nhơn Bình lưu ban tới 2 - 3 năm không vươn lên được, nhà trường phải gửi xuống nhờ thầy Nguyên dạy, đến khi hết "cá biệt" mới tiếp nhận trở lại.
Để đáp ứng được công việc này, ông Nguyên đã tự mày mò học hỏi qua sách vở, qua sự giúp đỡ của các giáo viên chuyên nghiệp trong vùng. Ngoài sách giáo khoa, ông còn ghi chép cẩn thận từng bài hát của thiếu nhi, từng bài tập thể dục để dạy học trò một cách bài bản. "Phải dạy đầy đủ các môn này để khi hoà nhập với học sinh các trường chính quy, học trò của tui không thua kém chúng bạn" - ông Nguyên nói.
Phương pháp dạy học của ông cũng rất linh hoạt, phù hợp với nhiều đối tượng học trò. Nhắc đến em Đào Thị AÁi Phương (16 tuổi, bị thiểu năng trí tuệ, đang học chương trình lớp 2), ông nói: "Với nó phải nói năng hết sức nhẹ nhàng, lựa lúc nó vui để truyền đạt kiến thức, vì chỉ cần nói nặng một tiếng là nó tự ái bỏ về nhà luôn".
Nhiều đứa trẻ ở bên kia sông Hà Thanh, mùa nước lớn không thể qua lại bằng cầu, ông chèo xuồng đưa sang. Thấy thầy quá nhiệt tình, lại dạy hay nên không có đứa trẻ nào bỏ học. Cứ như vậy, gần 20 năm qua, ông đã đưa hàng trăm đứa trẻ vào các trường học "chính quy" của Nhà nước.
Dân vùng bãi ngang này không còn xa lạ với hình ảnh một ông già mặc bộ bà ba nâu, tay cầm cờ tổ quốc đi dọc đê khu đông, dẫn theo hàng chục đứa trẻ tiến thẳng vào Trường Tiểu học số 2 Nhơn Bình mỗi dịp khai giảng năm học mới.
Thực ra, chuyện dạy học của người thầy đặc biệt này đã bắt đầu từ 50 năm trước, khi ông phải nghỉ ngang việc học vì hoàn cảnh khó khăn. Tuy vậy ngay từ ngày đầu tiên về quê, ông đã đến từng nhà có con em bỏ học, phân tích thiệt hơn về sự học và không quên dặn rằng: "Bất cứ lúc nào rảnh rỗi, con cứ tới nhà để thầy dạy chữ cho".
Rồi mỗi ngày, sau khi xong việc chài lưới dưới sông Hà Thanh, ông ở nhà đợi trẻ tới học. Nhờ ngôi trường tại gia của ông, dân các xã bãi ngang đã có hàng trăm người biết chữ, hàng chục người đỗ đạt.
Ông Nguyên lại dẫn tôi ra miễu Bắc, lần sờ từng nếp rêu phong cổ kính: "Hồi 9 năm kháng chiến vui lắm, đêm nào tui cũng dạy bình dân học vụ ở cái miễu này đây. Sáng ra lại viết chữ lên một cái bảng to để giữa đường và đứng gác, mấy bà bán cá không đọc được thì đừng có hòng tới chợ".
Trải qua bao biến cố thăng trầm, năm 1979 ông Nguyên lại dắt díu vợ con lên tận vùng Canh Hiệp, huyện miền núi Vân Canh để mưu sinh. Ban ngày, ông lên rẫy trồng mì, tối đến lại đốt lửa dạy chữ cho những đứa trẻ người dân tộc Ba Na thất học, để "sau này mấy con khỏi mang gùi lên rẫy nữa".
Thầy Sáu (người Ba Na ở Canh Hiệp gọi ông như thế) không chỉ dạy chữ mà còn hướng dẫn đồng bào biết cách diệt cung quăng, tập thói mắc mùng khi ngủ, ăn chín uống sôi... để khỏi mắc sốt rét. Sau 11 năm gắn bó với miền núi; năm 1991, ông về lại bãi ngang tiếp tục công việc dạy học như cũ.
Bán "của dưỡng già", lo chỗ học cho trẻ
Đằng sau sự cống hiến thầm lặng của ông Lê Sỹ Nguyên, có sự hy sinh cũng rất thầm lặng của vợ ông - bà Trần Thị Hiếu. Nếu vợ nhà thơ Tú Xương đã "nuôi đủ năm con với một chồng" thì bà Hiếu còn giỏi giang, nhân hậu hơn nữa. Không chỉ gần cả cuộc đời đúc bánh bèo, tráng bánh tráng dừa để nuôi đủ... một chồng với 7 người con gái, bà Hiếu còn giúp được chồng lo chuyện trồng người.
Năm 1995, căn nhà lá dùng làm lớp học của ông Nguyên bị giải toả để xây dựng đê khu đông, học trò phải nghỉ học một thời gian. Thấy chồng buồn bã vì không kiếm ra tiền xây trường, bà Hiếu bán luôn 8 chỉ vàng là "của dưỡng già" để giúp ông xây căn nhà 25 mét vuông làm chỗ dạy học. Được vài năm, số học trò đông hơn, ông Nguyên lại đòi xây thêm ngôi trường nữa. Bà Hiếu phải cùng chồng chèo xuồng qua bên kia sông Hà Thanh chở từng bao cát về lấp cái ao trước nhà, rồi mướn cộ trâu kéo đất đắp lên để có chỗ xây trường.
![]() |
| Thầy Lê Sỹ Nguyên chấm bài cho học sinh. |
Phải mất 4 tháng sau, hai vợ chồng già mới hoàn thành việc "san lấp mặt bằng", nhưng cũng vừa hết tiền. Sau khi bán hết bầy heo nái với đàn bò 7 con mà vẫn thiếu, bà Hiếu phải vay ngân hàng 10 triệu đồng mới đủ tiền xây ngôi trường rộng 31 mét vuông. Nhờ có cơ sở vật chất do bà Hiếu "tài trợ", ông Nguyên đón thêm hơn 50 đứa trẻ đến học. Khi nghe tôi nhắc khoản nợ 10 triệu đồng tới giờ vẫn y nguyên, ông cười ha hả: "Tui thả lưới với đặt bổi, ngày kiếm hai chục ngàn đồng; vợ tui bán bánh cũng lời được mười mấy ngàn đồng mỗi ngày là dư nộp lãi ngân hàng rồi".
Ông Nguyên kéo tôi vào xem hơn chục bao lúa chất đống trong buồng, như cố chứng minh là vợ chồng ông không hề thiếu gạo ăn. "Số lúa này tui để dành, nhà học trò nào thiếu gạo thì tui cho mượn đỡ, hồi nào có trả cũng được. Mấy ông cán bộ xã cứ biểu tui kê khai nhà cửa đặng đăng ký làm chỗ giúp bà con nghèo tránh bão, tui nói khỏi cần kê khai, ai cần thì cứ tới đây chớ vợ chồng tui ở mấy?" - ông Nguyên lại hồn nhiên nói. Tôi cứ bị hút hồn vào những câu chuyện của ông, như đang lạc vào một câu chuyện cổ tích.
"Muốn làm được, cần có cái tâm"
Theo chủ trương của thành phố Quy Nhơn và phường Nhơn Bình, những lớp học kiểu thầy Lê Sỹ Nguyên cần phải nhanh chóng kết thúc, bởi nó phản ánh bức tranh lem nhem của ngành giáo dục địa phương. Trên thực tế, những năm qua số trẻ em đến học ở ngôi trường tại gia này đã liên tục giảm từ trên 100 em xuống còn 40 em. "Năm nay, tui vét hết khắp vùng rồi đó. Khoảng 2 - 3 năm nữa, các em này hoà nhập là coi như bãi ngang không còn trẻ em nghèo bỏ học nữa. Mừng lắm chú à!" - ông Nguyên vui vẻ khẳng định.
Có điều gì khiến thầy Nguyên suốt đời theo nghiệp giáo làng vô điều kiện, không chỉ dạy chữ mà còn làm lụng cực nhọc để xây dựng cơ sở vật chất cho học sinh? Có lẽ bản thân ông Nguyên cũng vì nghèo khó mà phải bỏ học, nên ông yêu thương những đứa trẻ có hoàn cảnh khó khăn, khuyết tật. Tuy nhiên, đúng là "nói thì dễ lắm, nhưng để làm được điều này thì cần phải có cái tâm" - ông nhẹ nhàng như đang nói với chính mình vậy. Riêng tôi cảm nhận được điều đó qua tiếng cười sảng khoái, hồn nhiên của đôi vợ chồng già.