Chuyện nữ bí thư tỉnh uỷ đầu tiên ở Tây Nguyên
Thứ Bảy, 20.3.2010 | 08:37 (GMT + 7)
Đất trời và con người Tây Nguyên từ xưa đến nay thường tạo nên những cái riêng khác biệt, nhưng rất hấp dẫn, lôi cuốn. Chuyện con gái "bắt chồng", phụ nữ làm già làng... đã quen thuộc. Nhưng có lẽ chuyện chị Y Vêng - người phụ nữ dân tộc thiểu số Xơ Đăng đầu tiên ở Tây Nguyên, từ cô bé giao liên ngày xưa, đến nay đảm nhiệm chức Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Kon Tum, khoá XI và khoá XII, chắc chỉ có một mà thôi.
Theo cha đi làm cách mạng
Trong một chuyến công tác vào những ngày đầu xuân Canh Dần - 2010, chúng tôi tình cờ gặp chị Y Vêng - nữ chiến sĩ giao liên ngày xưa, Bí thư Tỉnh uỷ Kon Tum bây giờ. Làm việc với chúng tôi chưa đầy một giờ mà chuông điện thoại reo liên tục, câu chuyện của chị kể nhiều lúc bị gián đoạn...
Chị sinh ra và lớn lên trong một gia đình cách mạng tại làng Van Tó, xã Đắc Ui, huyện Đắc Hà (Kon Tum). Ông A Tranh – ba của chị, đi theo bộ đội từ khi cái đầu chưa cao hơn ngọn bắp, là một chiến sĩ gan dạ, mưu trí và dũng cảm, lập được nhiều chiến công trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, năm 1995 ông đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.
Con gái cưng nên được người cha rất chiều. Chị Y Vêng nhớ lại, vào một ngày trời mưa rất to, sông suối nước dâng cao và chảy xiết, đi lại khó khăn, nhiều người dân trong làng tụ họp ở nhà.
Mọi người bàn tán rất nhiều chuyện, nhưng chị chỉ nhớ một số nội dung phát biểu của cha mình: “Bà con mình phải đoàn kết, thương yêu nhau mới tạo nên sức mạnh để đánh được giặc xâm lược. Sức mạnh của đoàn kết như một cây kơ nia đứng ngoài rừng dễ bị mưa gió quật ngã, nhưng 5-6 rồi 10-20 cây chụm lại với nhau thì mưa gió có to đến đâu cũng không làm gì nổi. Đồng bào mình cũng như vậy, đánh thắng giặc xâm lược phải cần rất nhiều người, làm rất nhiều việc... và chỉ đi theo Bác Hồ, có Đảng, có cách mạng chỉ lối thì chúng ta mới được ăn no, mặc ấm và tự do, hạnh phúc thực sự...”.
Không biết Bác Hồ, không biết Đảng và cách mạng là ai, nhưng nghe nói được sống tự do, lại được ăn no, mặc ấm... là Y Vêng thích lắm. Sau cuộc họp đó, gặp cha, chị hỏi:
- Bác Hồ, Đảng và cách mạng là ai mà giỏi vậy? Cha cho con đi theo với!
Ông A Tranh nhìn con gái rồi cười to: “Mới 7 tuổi thì con biết gì mà hỏi, ăn cho giỏi, mau lớn, mạnh khoẻ rồi cha cho đi...”.
Nói thì vậy, nhưng sau đó mấy ngày, ông A Tranh đã nhờ con gái hằng ngày đưa cơm cho cán bộ cách mạng nằm vùng ở ngoài rừng, với lời dặn “đừng cho ai nhìn thấy và cũng đừng nói với ai nghe con...”. Thế là từ đó, Y Vêng hiểu được ý nghĩa của việc mình làm. Cứ mỗi lần đưa cơm, cõng gạo cho bộ đội là chị lại nhìn trước, ngó sau và mọi hoạt động của chị diễn ra thật nhanh như lời cha dặn.
Lên 10 tuổi, mấy đứa bạn cùng thôn ốm yếu, còi cọc, tóc phơi nắng hoe vàng và cháy khét, nhưng Y Vêng cao lớn hơn hẳn, chị lại được mấy chú bộ đội tập hát, tập múa và hát múa rất hay nên được “kết nạp” vào đội văn nghệ lưu động đi biểu diễn phục vụ cho cán bộ cách mạng và mấy đơn vị bộ đội sau một thời gian “quần nhau” với giặc trở về.
Những bài dân ca Ba Na, Xơ Đăng, Giơ Rai, Giẻ Triêng... và cả những bài ca cách mạng được chị hát rất hay và truyền cảm sâu đậm nên được các chú bộ đội vỗ tay và yêu cầu hát lại nhiều lần...
Theo Y Vêng, những bài hát dân ca đó là sự kết tinh, truyền cảm từ người mẹ truyền cho. Lúc nhỏ, những đêm trăng sáng, hay những chiều mưa rơi, bên khung cửi, mẹ chị vừa dạy cách dệt vải lại vừa dạy cho con những bài hát của dân tộc mình...
Như cánh chim chơrao giữa đại ngàn Tây Nguyên không biết mệt mỏi, ngày thì Y Vêng tích cực tập múa, tập hát, khâu vá quần áo, phụ nấu cơm, đêm về lại biểu diễn, động viên các chú, các cô và nhất là số bộ đội bị thương, ốm đau đang điều trị.
Đầu năm 1967, Y Vêng đã lên 17 tuổi và chị tham gia du kích. Được các chú bộ đội dạy cho cách cắm chông, cài bẫy, ném lựu đạn và bắn súng, nhiều tên giặc đã bị chết vì những hố chông, bẫy gài của chị. Thành tích của chị đã được anh em cán bộ truyền tin đi khắp Kon Tum và Tây Nguyên để nhân rộng.
Năm 18 tuổi, Y Vêng được kết nạp vào Đảng và đảm nhiệm chức Xã đội phó. Ngoài tham gia chiến đấu, Y Vêng vừa tuyên truyền cho bà con tích cực làm ăn ổn định cuộc sống và đi theo cách mạng, thanh niên vào bộ đội, du kích để chiến đấu bảo vệ xóm làng. Chính khả năng đó đã đưa chị từ một diễn viên văn nghệ trở thành nữ dân quân chiến đấu và cán bộ chính trị.
..."Tham gia du kích khi còn rất trẻ, lại dũng cảm xông pha trận mạc..., kỷ niệm nào để lại nhiều ấn tượng nhất trong những năm tháng chiến đấu?” - chúng tôi hỏi chị.
Cười tươi, rồi mời chúng tôi uống cạn ly nước, chị tâm sự: Chiến trường Tây Nguyên nóng bỏng. Từ năm 1965, sau khi Mỹ đổ quân vào miền Nam, để giành ưu thế thuận lợi, làm bàn đạp tấn công xuống các tỉnh đồng bằng, chúng đã huy động các đơn vị đặc biệt tinh nhuệ như “Sư đoàn Tia chớp Nhiệt đới”, “Không vận số 7”, “Kỵ binh bay”, với sự yểm trợ của pháo hạm, máy bay B52 cùng các loại máy bay phản lực khác mở các trận càn quét dài ngày hòng đánh phá và chiếm lại một số vị trí trọng điểm như đèo An Khê, Mang Yang, Plei Me... (Gia Lai); Tân Cảnh, Đắc Glei và Đắc Ui... (Kon Tum).
Ở Đắc Ui, có tháng chúng càn quét liên tục tới 10 - 15 ngày liền. Với quan điểm, địch phá thì ta xây dựng lại, địch đốt nhà này thì dân làm nhà khác để ở, chứ nhất định không chịu theo địch vào ấp chiến lược.
Trong mười bốn năm - từ 1961 đến năm 1975, làng Van Tó của chị đã phải di chuyển trên 25 lần, mỗi lần đến nơi ở mới người dân đều phải dựng nhà, làm rẫy..., ấy là chưa kể những lần di chuyển vội, dựng nhà tạm được mấy ngày rồi chuyển đi. Bà con đồng bào các dân tộc của mình rất kiên cường chiến đấu, địch vào đợt nào cũng bị đánh bật ra và để lại thương vong lớn.
Khoảng cuối tháng 5.1968, nhận được tin địch đang đưa quân vào càn phá, chị đã chỉ huy 3 chiến sĩ du kích xã Đắc Ui, gồm A Nin, A Né, A Xú nhanh chóng đến dãy núi Măng La phục kích đánh địch, bảo vệ cho bà con rút vào căn cứ cách mạng trú ẩn.
Trận đánh diễn ra giữa một bên là 4 chiến sĩ du kích và một bên là một tiểu đoàn Mỹ – ngụy hỗn hợp. Mặc dù không cân sức, nhưng trận chiến đấu vẫn diễn ra ác liệt suốt một ngày. Trời tối dần, đất đá rối tung, nhiều cây to bị đạn pháo quật ngã và bốc cháy, hơi lửa bỏng rát, khói súng và bom đạn khét lẹt, cổ khát nước bỏng rát...
Ba đồng đội đã hy sinh, còn lại một mình, với khẩu cạcbin trong tay, Y Vêng vừa bắn vào đội hình giặc, vừa lùi, nhử bọn địch vào sâu trong rừng để tiêu diệt. Phát hiện chỉ còn một “Việt cộng”, lại là con gái “bản địa”, bọn địch vừa bắn như vãi đạn vừa hò reo đuổi bắt... Y Vênh nhanh như con sóc, hết gốc cây này, lại nhảy qua gốc cây khác, hết tảng đá này lại bò đến tảng đá kia, vừa di chuyển, chị vừa nhắm vào bọn địch bóp cò...
Đã không bắt được nữ “Việt cộng”, mà mấy tên nữa trúng đạn bị thương và chết, bọn giặc cố bắn hết đạn vào núi rừng rồi tổ chức thu xác, rút quân. Sau trận đánh này, chi bộ đã tổ chức lễ kết nạp chị vào Đảng.
Những năm tháng làm “đầy tớ của dân”
Năm tháng được tôi luyện trong chiến tranh, Y Vêng ngày càng trưởng thành và đặc biệt hơn là chị luôn được đồng đội và nhân dân tin tưởng, quý mến. Năm 1970, chị được bầu vào Ban Chấp hành Đảng bộ huyện, trực tiếp làm Bí thư Chi bộ xã Đắc Ui. Sau đó, chị được điều về làm Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện 16; Uỷ viên Ban Thường vụ Huyện uỷ và tiếp tục đảm trách các chức vụ khác do tổ chức phân công, cho đến tháng 10.1991, tỉnh Gia Lai – Kon Tum chia tách và tỉnh Kon Tum được tái lập.
Từ các kỳ đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX, X, XI, XII, chị được bầu vào Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, lần lượt giữ các chức vụ: Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ; Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh; Bí thư Tỉnh uỷ; Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Kon Tum khoá X và Quốc hội khoá XI. Trong công tác cũng như trong cuộc sống hằng ngày, chị luôn đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên hết, cho nên khi giải quyết mọi công việc đều xuất phát từ cái chung, đảm bảo đúng nguyên tắc, trọng chữ tín và phát huy được tinh thần đoàn kết nên anh em, đồng chí, đồng đội luôn đồng tình ủng hộ.
“Trong cuộc sống, chị sắp xếp thế nào để vừa tròn việc nhà, vừa hoàn thành tốt việc nước?” - chúng tôi lại hỏi chị.
"Dù ở cương vị nào ngoài xã hội, nhưng khi về nhà người phụ nữ phải có trách nhiệm với gia đình. Tổ ấm, hạnh phúc gia đình là tiền đề, là cơ sở để cho mình phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình được tổ chức phân công".
Nói đến đây, chị cười rất vui, rồi kể cho chúng tôi biết thêm chuyện chị “bắt chồng” trong kháng chiến. Hiện nay, chồng của chị là “hậu phương” vững chắc giúp chị vững tâm trên cương vị của mình.
Đến đây, tôi chợt nhớ vào khoảng năm 1999 – 2000, trong một chuyến công tác đến Kon Tum, tôi được một anh bạn làm việc ở Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh kể cho nghe chuyện “Nữ Chủ tịch tỉnh từ chối nhiều chuyến công du nước ngoài để tiết kiệm tiền góp phần xoá đói, giảm nghèo, mua sách vở cho con em đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa đến trường”...
Bởi theo Y Vêng, đi nước ngoài là cần thiết. Là người đứng đầu chính quyền một tỉnh, việc đi nước ngoài để tham quan, học tập kinh nghiệm, mở rộng công tác đối ngoại chẳng phải là thừa. Nhưng đã đi là sử dụng ngân sách, mỗi chuyến đi, chẳng ai tự bỏ tiền túi ra, mà phải sử dụng một nguồn ngân sách không nhỏ, trong khi đó, bà con mình còn nghèo quá, tỉnh Kon Tum còn khó khăn quá. Nhiều cán bộ khác thấy chị làm vậy cũng “tình nguyện” ở nhà và về sau chuyện đi nước ngoài cũng rất hạn chế.
Theo chị, đến nay mặc dù còn những khó khăn nhất định, nhưng ở Tây Nguyên nói chung, Kon Tum nói riêng, đời sống người dân phát triển rất nhiều. Điện, đường, trường, trạm đã đến tận những bản làng vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng, nhiều khu công nghiệp được xây dựng, phát triển, giải quyết hàng ngàn lao động là con em đồng bào dân tộc thiểu số, nhiều hộ gia đình đã vươn lên giàu có... Đó là sự quan tâm đầu tư của Đảng, Nhà nước, là sự cố gắng của cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương và lòng tin của đồng bào vào sự nghiệp cách mạng.
Trong những năm qua, trên cương vị mà Đảng, Nhà nước giao phó, chị Y Vêng đã cùng các đồng chí lãnh đạo tỉnh Kon Tum tập trung sức chỉ đạo, lãnh đạo, triển khai thực hiện có hiệu quả các nghị quyết của Đảng, Đảng bộ tỉnh, tập trung xây dựng tỉnh Kon Tum ngày càng ổn định và phát triển. Đất, trời và con người Kon Tum đã có “chỗ đứng” trong lòng người dân cả nước nói chung, Tây Nguyên nói riêng...