Công nghiệp ôtô Việt Nam bắt đầu cuộc khủng hoảng?
Thứ Hai, 1.6.2009 | 08:12 (GMT + 7)
Nhưng điều đáng nói là sau những năm dài "nuông chiều" với quá nhiều ưu đãi; đến nay, khi không đáp ứng những đòi hỏi vô lý của họ, những DN này "dọa" sẽ thực hiện chính sách nhập khẩu chứ không sản xuất. Phải chăng, cuộc khủng hoảng của ngành công nghiệp ôtô VN đã bắt đầu?
"Nhát kiếm" cuối cùng?
Lần thứ hai trong vòng 2 năm, Bộ Tài chính "nói không" với việc giảm thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) đối với dòng xe ôtô 6-9 chỗ ngồi.
Cuộc tranh cãi lần thứ nhất xảy ra giữa Bộ Tài chính với Bộ Công Thương vào năm 2008. Khi đó, Bộ Công Thương cho rằng loại xe này đa dụng, có năng lực vận chuyển cao, nằm trong chiến lược nội địa hóa ôtô... Vì thế, cần ưu đãi. Lần thứ hai, VAMA và Toyota châm ngòi khi kiến nghị... thay đổi chính sách thuế được Quốc hội thông qua với "tối hậu thư": Nếu không giảm thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB), các DN này sẽ nhập khẩu thay vì lắp ráp.
Lập luận được đưa ra là: Theo cam kết CEPT, thuế NK xe ôtô nguyên chiếc giảm dần xuống 60% vào năm 2013 và xuống 0% vào năm 2018, giá xe NK sẽ giảm dần và đi ngang từ năm 2018. Như vậy, sản xuất trong nước sẽ phải cạnh tranh với xe NK. Nếu được ưu tiên, dòng xe này sẽ tăng nhanh doanh số bán, phát triển công nghiệp phụ trợ, nâng cao tỉ lệ nội địa hoá, hạ giá thành và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Theo giới kinh doanh ôtô, rất có thể đây là "nhát kiếm" cuối cùng kết thúc sự "nuông chiều" với các DN. Anh Nguyễn Minh Dung - GĐ một DN kinh doanh ôtô - cho biết: Chúng tôi và cả NTD trong nước "chán ngấy" thói đỏng đảnh, các chiêu làm giá và cả chất lượng xe trong nước. Thực chất những DN này gần như "phi sản xuất", chỉ nhập khẩu linh kiện, lắp ráp và "chuyển lãi" về DN mẹ. Đồng thuận quan điểm này, một chuyên gia Bộ Công Thương phân tích: Sau rất nhiều nỗ lực, VN đã giảm thuế nhập khẩu xe xuống còn 60% vào năm 2007. Nhưng chưa đầy nửa năm sau, trước sức ép của các DN, thuế nhập khẩu xe đã tăng lên tới 83%.
Từ tháng 3.2009 đến nay, linh kiện ôtô đã 2 lần được giảm thuế nhập khẩu và thuế VAT. Bên cạnh đó, những DN này cũng được hưởng quá nhiều ưu đãi cả về đầu tư, thuế nhập khẩu, gần đây là thuế thu nhập DN... Nhưng thử hỏi, các DN có giảm giá bán cho NTD, có đóng góp đúng cam kết cho ngành công nghiệp ôtô VN? Câu trả lời là không.
Bắt đầu cuộc khủng hoảng?
Theo các chuyên gia, sẽ rất "nực cười" với lập luận của các DN. Đại diện Bộ Tài chính, bản thân Bộ trưởng Vũ Văn Ninh cũng phản bác khi đặt vấn đề: Với quá nhiều ưu đãi, nhưng sau mười mấy năm (kể từ khi các liên doanh thành lập), các DN chỉ thiết lập được công nghiệp lắp ráp ôtô thay vì xây dựng ngành công nghiệp sản xuất ôtô.
Tuy nhiên, không phải đến bây giờ các cơ quan quản lý mới phát hiện ra "công nghiệp lắp ráp ôtô" chứ không phải "ngành công nghiệp ôtô". Trên thực tế, khủng hoảng này bắt đầu từ lâu; thậm chí là ngay từ năm 2005, khi mà chính sách nội địa hóa không đạt mục tiêu. Thế nhưng, với lập luận của mình, các DN ôtô dường như đang đẩy cuộc khủng hoảng này lún sâu hơn.
Rõ ràng trong suốt thời gian qua, các DN trong nước luôn đòi hỏi và lấy chính sách thuế ra như là tấm lá chắn cho sự yếu ớt. Và sự yếu ớt này thể hiện chính trong lời kêu cứu của VAMA khi mà NTD trong nước đã quay lưng với dòng xe do DN trong nước sản xuất. Kết quả là doanh số sụt giảm thê thảm tới 68% chỉ trong tháng 4.2009. Trong khi đó, dòng xe NK lại có xu hướng tăng mạnh.
Điểm mấu chốt khác để nhận thấy "cuộc khủng hoảng đã bắt đầu" khi mà năm 2010 sắp đến, thế nhưng mục tiêu nội địa hóa 40% - 60%, đáp ứng 30% - 80% nhu cầu (tùy chủng loại) của chiến lược phát triển ngành ôtô VN đến năm 2010 và tầm nhìn năm 2020 đã có thể coi là phá sản.
Đến đây, nhiều chuyên gia chợt nhận ra rằng: Việc thực hiện các chính sách ưu đãi của VN đã tạo ra tác dụng ngược và là sai lầm. Bởi lẽ đáng ra, VN cần ưu đãi trong đầu tư, nhưng sòng phẳng trong cạnh tranh theo quy luật thì lại đi nuông chiều và o bế các DN. Từ đây, các DN đã "lợi dụng" ưu đãi, biến nó thành lợi nhuận trước mắt mà không xây dựng ngành công nghiệp ôtô như cam kết phát triển lâu dài. Và khi ưu đãi không còn, cam kết bị phá bỏ thì ngành lắp ráp cũng kết thúc?
ĐVT: ngàn đồng/lượng
| Loại | Mua | Bán |
| Vàng SJC 1L | 44.620 | 44.820 |
| Vàng nữ trang 24 K | 43.320 | 44.820 |
| Vàng nữ trang 18 K | 31.770 | 33.770 |
| Vàng nữ trang 14 K | 24.280 | 26.280 |
| Vàng SJC | 44.620 | 44.840 |
| Vàng SJC | 44.630 | 44.820 |
| Vàng SJC | 44.610 | 44.840 |
| Vàng SJC | 44.620 | 44.820 |