Đánh thuế đất, chưa đánh thuế nhà
Thứ Ba, 16.3.2010 | 10:38 (GMT + 7)
Nhưng, khi lấy ý kiến nhân dân, ĐBQH, cơ quan hữu quan thì gặp phải sự không đồng thuận; và ý kiến chung trong UBTV QH đã làm thay đổi cục diện dự luật này: Đánh thuế đất, chưa đưa nhà vào đối tượng chịu thuế. Bởi vậy, tên luật được sửa thành "Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp".
Theo dự thảo “Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp” thì đối tượng chịu thuế là đất ở tại nông thôn, tại đô thị; đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp bao gồm đất xây dựng khu công nghiệp, đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh, đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản, đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm.
Vậy, căn cứ vào đâu để tính thuế đất? Dự luật quy định diện tích đất tính thuế là phần diện tích ghi trong “sổ đỏ”. Trường hợp chưa có sổ đỏ thì tính thuế trên diện tích đất thực tế đang sử dụng. UBTV QH cho rằng quy định diện tích chịu thuế căn cứ trên “sổ đỏ” là chưa chặt chẽ vì trên thực tế không phải khi nào diện tích ghi trên “sổ đỏ” cũng bằng diện tích thực tế. Tình trạng cơi nới, lấn chiếm nhà đất vẫn đang xảy ra và phần diện tích này không nằm trong phần điện tích trên “sổ đỏ”.
Vì vậy, UBTV QH đề nghị: Dự luật quy định theo hướng diện tích đất chịu thuế là diện tích đất sử dụng thực tế; đồng thời bổ sung quy định về mức thuế suất riêng là 0,15% đối với đất lấn chiếm (không áp dụng hạn mức đối với diện tích đất lấn chiếm) vì đây là hành vi bất hợp pháp; việc thu thuế đối với diện tích lấn chiếm không phải là hình thức công nhận tính hợp pháp của diện tích đất này.
Về trường hợp có quyền sử dụng nhiều đất ở, UBTVQH thống nhất, để đảm bảo tính khả thi, thuận tiện trong áp dụng luật thì chỉ tính tổng diện tích đất chịu thuế thuộc sở hữu của người nộp thuế tại từng tỉnh, thành phố trực thuộc T.Ư, không cộng dồn diện tích ở mọi địa phương trên toàn quốc.
Ý kiến chung trong UBTVQH đề nghị lùi thời hạn thi hành luật này, có thể từ ngày 1.1.2012.
Cùng ngày, UBTV QH thảo luận về Dự án Luật Thuế môi trường. Thường trực UB Tài chính - Ngân sách của QH không nhất trí với tên luật như vậy và đề nghị tên luật là “Luật Thuế bảo vệ môi trường” vì mục tiêu ban hành luật thuế này là áp dụng thuế đối với sản phẩm gây ô nhiễm, góp phần bảo vệ môi trường, chứ không phải thuế đánh vào môi trường.
Theo quy định của dự thảo luật, có 5 nhóm đối tượng phải chịu thuế môi trường: Xăng, dầu; than; dung dịch HCFC; túi nhựa xốp và thuốc bảo vệ thực vật thuộc nhóm hạn chế sử dụng. Tại phiên thảo luận, nhiều ý kiến chưa tán thành với quy định về 5 nhóm đối tượng chịu thuế này vì cho rằng còn rất nhiều mặt hàng khác, đặc biệt là các loại hoá chất, sản phẩm độc hại... tác động trực tiếp đến môi trường và sức khoẻ con người.
Vì vậy, UB Tài chính - Ngân sách của QH đề nghị: Rà soát, khảo sát thêm thực tiễn bổ sung các đối tượng chịu thuế trên nguyên tắc đã là sản phẩm gây tác động tiêu cực đến môi trường thì phải thuộc diện chịu thuế; sản phẩm hàng hoá có tác động đến môi trường không lớn thì trước mắt có thể áp dụng mức thuế suất thấp hoặc định mức thuế suất 0%. Cũng có ý kiến đề nghị bổ sung vào đối tượng chịu thuế một số mặt hàng như chất tẩy rửa, hạt nic, dầu nhớt...
Thuế đất không “khắc nghiệt”. UBTVQH có quan điểm tiếp thu ý kiến đóng góp vào dự luật, quy định 3 mức thuế suất: Đối với diện tích đất ở trong hạn mức thuế suất là 0,03%; đối với phần diện tích đất ở vượt hạn mức, nhưng không quá 3 lần thì mức thuế suất là 0,06%, riêng đối với đất vượt hạn mức trên 3 lần, thuế suất là 0,1%. Về thuế suất đối với đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, thuế suất là 0,03%; riêng đối với đất sử dụng sai mục đích, đất được giao mà không đưa vào sử dụng đúng thời hạn, đất để hoang hoá thuế suất là 0,1%.
|
Theo đánh giá của UBTVQH nên để mức khởi điểm của thuế suất đối với đất là 0,03%, và nhìn chung như vậy là khá thấp so với mặt bằng kinh tế chung của người dân hiện nay, không phải là khắc nghiệt. |
ĐVT: ngàn đồng/lượng
| Loại | Mua | Bán |
| Vàng SJC 1L | 44.600 | 44.800 |
| Vàng nữ trang 24 K | 43.300 | 44.800 |
| Vàng nữ trang 18 K | 31.750 | 33.750 |
| Vàng nữ trang 14 K | 24.270 | 26.270 |
| Vàng SJC | 44.600 | 44.820 |
| Vàng SJC | 44.610 | 44.800 |
| Vàng SJC | 44.590 | 44.820 |
| Vàng SJC | 44.600 | 44.800 |