Phóng sự Email    In

Đi về nơi gió chướng

Thứ Năm, 18.3.2010 | 08:10 (GMT + 7)

(LĐ) - Có một loại gió bắt đầu và kết thúc vài tháng trước và sau tết, thổi từ hướng đông, ngược chiều sông Tiền, sông Hậu, đẩy nước mặn vào đất liền. Loại gió không thân thiện ấy từ xa xưa đã được người miền Tây đặt cho cái tên không thiện cảm: Gió chướng.

Gió chướng thổi mạnh nhất vào tháng 3, gây khô hạn, mặn nặng nhất cũng vào tháng 3. Tôi đã từng có tuổi thơ căng đầy gió chướng. Tháng 3 năm nay, tôi lại đi gặp gió chướng ở nơi nó ít thân thiện nhất!

Gió của mặn và hạn

Quê tôi ở vùng ven biển tỉnh Long An. Ký ức đậm nhất của tuổi thơ là mùa gió chướng. Gió chướng về, vụ gặt duy nhất trong năm cũng đến. Nối đuôi sau “lúa mới” là tết với bao ước vọng của tuổi thơ. Qua tết là mùa thả diều. Gió còn đem con nước lớn với tiếng bìm bịp kêu cho chúng tôi “đưa tay ôm nước vào lòng”...

Tuổi thơ hồn nhiên đâu quan tâm tới những nhọc nhằn gió chướng đem đến cho mẹ: Chắt chiu từng ca nước ngọt cho con được mát lòng; đi đồng xa gánh nước ao làng về cho cả nhà xài; mẹ mỏi mòn chờ đợi chiếc ghe “đổi nước”... Chuyện nước ở quê tôi giờ đã khác xưa. Ký ức tuổi thơ bỗng hiện về vào giữa tháng 3 này khi tôi đi về nơi gió chướng bắt đầu - những cửa sông Cửu Long.

Rời TP.Mỹ Tho, đi về hướng biển gần 50 cây số, tôi đến bến đò Tân Long. Trước mặt là cửa Tiểu - nhánh đầu tiên của Cửu Long. Gió chướng nơi đây mới thật “chướng”, thổi phần phật từ biển vào, như có vị mặn, làm xốn xang mắt mũi. Nước sông không còn “đỏ nặng phù sa”, mà trong xanh màu của mặn, của hạn. Xuống đò, băng qua cửa Tiểu, tôi đặt chân lên huyện Tân Phú Đông (Tiền Giang) - huyện được xem là khắc nghiệt nhất đồng bằng về chuyện “mặn ngọt” vào mùa khô.
 
Tiếp đón tôi là 2 người “bạn của bạn”, anh Trần Hữu Tài - Trưởng ban Tuyên giáo huyện - và anh Hữu Dư ở Đài Phát thanh huyện. Dù mới gặp lần đầu, nhưng các anh tiếp đãi thân tình như quen biết đã lâu. Ở nơi “Rôbinsơn” này, ai cũng quý khách. Biết tôi đi viết phóng sự đề tài “mặn ngọt” trong mùa khô, anh Hữu Tài gật gù: “Chọn đúng chỗ rồi”. Nhờ các anh hướng dẫn thu thập những thông tin xong thì đã hết ngày.
 
Bữa cơm chiều do các anh đãi cũng thịt cá, cơm trắng, nhưng tôi ăn thấy “thế nào”. Hiểu ý, anh Hữu Dư giải thích: Do nước. Tôi chợt nhớ kỷ niệm tuổi thơ, có năm mùa khô kéo dài, nước mưa trong lu hết sạch, mẹ phải nấu cơm bằng nước ao. Tôi đã khóc không chịu ăn vì “cơm chát ngằm”. Cơm xong, về nhà trọ tắm rửa, nghỉ ngơi, tôi thấy người ngứa và rít. “Thôi rồi, do nước!” - tôi giật mình. Mua chai nước tinh khiết loại 1,5 lít về “láng” qua người, nhưng tôi vẫn bứt rứt khó ngủ. Bên ngoài, gió chướng về đêm càng thổi mạnh.

Lay lắt huyện cù lao

Tân Phú Đông là huyện duy nhất đồng bằng hoàn toàn không có nước ngọt vào mùa khô. Không nước ngầm, bốn bề bao bọc bởi 2 cửa Tiểu, Đại, phải đắp đập, đê ngăn mặn, cả cù lao trải qua mùa khô bằng nguồn nước ngọt trữ lại từ cuối mùa mưa. Trữ bằng lu, bể bêtông, ao, kênh, mương...

Ở đây cũng có nước máy, nhưng là nước được bơm từ kênh, mương lên xử lý, rồi theo ống nhựa tới các cơ quan, một số hộ dân. Mới tháng 3 mà con kênh chính trữ nước sinh hoạt cho cả huyện đã cạn sâu, nước sắc màu vàng của phèn. Còn các con mương, rạch nhỏ thì đã trơ đáy, để lại lớp phèn vàng rực. Nhìn những dòng kênh, mương nước “cô đặc”, tiếp nhận nước thải sinh hoạt của bao gia đình sống 2 bên bờ, rồi thuốc trừ sâu, diệt cỏ của những cánh đồng rút xuống cuối mùa mưa, tôi không biết đơn vị cấp nước xử lý cách nào để biến nó thành nước sinh hoạt an toàn.

Nước bơm lên cho cả huyện sử dụng. 
Theo đường tỉnh 877B đi dọc theo chiều dài cù lao, tôi thấy 2 bên là cảnh đồng ruộng khô cằn, một ít màu xanh của cây sậy, cây sả... Thỉnh thoảng có những đám ruộng lúa cháy khô khi mới trổ bông. Anh Hữu Tài cho biết, do năm nay mặn sớm, không còn nước ngọt để bơm, nên một số đám lúa muộn “chết đứng”. Tôi đến xã Phú Đông, là xã khó khăn nhất huyện về chuyện nước sinh hoạt.

Chủ tịch xã Đặng Văn Biên cho biết, vì nước cho người còn thiếu nên vào mùa này hầu như không có hoạt động sản xuất, chăn nuôi nào đáng kể. Tỉ lệ hộ nghèo trong xã hơn 40%. Anh Bạch Văn Thạnh - cán bộ nông nghiệp - thuỷ lợi xã - đưa tôi đến một số nhà dân cách không xa trụ sở uỷ ban.

Anh cho biết, hầu hết thanh niên nam, nữ trong xã đều rời quê vào mùa khô, đi làm ở xa. Ban đầu đến mùa mưa họ trở về làm ruộng, về sau trở về ít dần... Bấy giờ tôi mới để ý: Trên các đường làng chỉ có người già và trẻ em. Thi thoảng lắm mới gặp một vài cô gái. Làn da và mái tóc của họ cũng khô như chính cánh đồng khô.

Đến ấp Lý Quàn 2, tôi ghé thăm hộ ông Nguyễn Văn Rượt. Tài sản đáng giá nhất của ông chính là 2 hồ bêtông (mỗi hồ hơn 2m3) của Nhà nước tặng hộ nghèo. Với các hồ đó, ông Rượt chứa nước mưa cho ăn uống qua mùa khô. Còn nước sinh hoạt? Bơm dưới mương lên. “Mùa này nước sắc lại, rửa chưn còn ngứa” - ông Rượt nói.

Ông mua thuốc Chloramine B nghiền nát hòa vào, lắng 3 ngày, dưới đáy lu đọng cả tấc bùn, phèn, múc lớp nước trong bên trên ra xài. Gần bên nhà ông Rượt, vợ chồng anh Nguyễn Hoàng Nam cũng sống cảnh: Uống nước mưa, xài nước “cô đặc” pha thuốc.

Tháng ba đi qua cửa Đại

Rời Tân Phú Đông, tôi đến bến đò Lý Quàn qua huyện Bình Đại (Bến Tre). Trong thời gian chờ đò, tôi lân la nói chuyện “nước” với người chủ quán trên bến. Ông tên Năm Lỳ, cái tên bà nội đặt, vì hồi nhỏ ông rất “lỳ”, không chịu tắm nước mặn. Như những người “đủ ăn” khác ở đây, ông dành tiền xây gần chục hồ chứa nước loại 3m3/hồ. Nhờ có nhiều nước ngọt mà quán ông đắt khách. Người đi đường khát nước, ông để sẵn lu nước cho uống. “Riết thành quen, nhiều người ghé quán xin nước và mua đồ” - ông Lỳ nói. Chia tay, ông dặn tôi: “Ngồi vô trong đò, đừng đứng bên ngoài, kẻo ướt hết người. Tháng này cửa Đại sóng lớn lắm. Tháng ba đi qua cửa Đại!”.

Lời ông dặn không sai. Gió chướng vào hồi mạnh nhất đã làm cho cửa biển lớn nhất miền Tây này như sôi lên. Từng con sóng như thân voi cứ “tung hứng” chiếc tàu đò hơi bị mỏng manh. Dù ngồi trong đò, tôi cũng bị sóng nước tung tạt ướt cả mặt. Nhờ vậy mà tôi biết nước sông mặn, rất mặn. Vậy mà người dân Bình Đại mà tôi sắp gặp hằng ngày phải tắm giặt bằng nước sông này.

Ớ… nước!

Tài sản quý nhất là các hồ, lu nước ngọt.

Là chỗ quen biết lâu ngày gặp lại, đang tay bắt mặt mừng, anh Võ Văn Quân - Chánh Văn phòng UBND huyện Bình Đại - khi nghe tôi nói về đề tài định viết, bỗng trở giọng buồn thiu: “Chuyện nước ngọt, buồn lắm!”. Anh cho biết, UBND huyện đang xài nguồn nước được chuyển từ xa về, giá 10.000đ/m3. Cũng nước đó, sau khi chuyển qua mấy chặng, khi tới tay người dân trong ruộng, giá lên đến hơn 100.000đ/m3. “Nước nôi kiểu ấy” nên sản xuất không phát triển. Chẳng nhà đầu tư nào đến đây để “khát nước”.

Đến xã Bình Thắng, chỉ cách trung tâm huyện vài cây số, tôi đã chứng kiến cảnh “khát”. Chủ tịch xã - chị Trần Thị Hà - cho biết, khó khăn nhất là “2 ấp cù lao” (ấp 5 và ấp 6) vì “nước 10.000đ” mới vô đựơc chừng 10% trên tổng số 700 hộ. Đến ấp 5, ghé nhà anh Hồ Văn Thanh - Chủ tịch CCB ấp, anh chỉ ngay: “Đó, hồ nước này chừng 2m3, tui mới “đổi” giá 180.000đ”. Ở xứ này ấp nào cũng có ghe đổi nước.

Họ ra huyện “đổi” nước, đem về “đổi” lại cho dân lấy lời. Giá nước cao dần theo quãng đường chuyên chở. Nhưng không phải ai kêu ghe nước cũng ghé. Những hộ nghèo kêu “đổi” vài ba đôi nước (40 lít/đôi), chủ ghe thường không ghé vì “lắt nhắt”. Mỗi khi ghe nước chịu ghé lại, lũ trẻ trong xóm mừng còn hơn “má đi chợ về”, chạy nhảy reo vui... Khi nước ngọt là “xa xỉ phẩm” như thế, người nghèo chỉ đụng đến khi thật sự cần thiết. Họ tắm giặt chủ yếu nước mặn, sau đó “láng qua” một ca nước ngọt.

Trên đường quay ra xã, tôi còn nghe vọng từ xa: “Ớ... nước”. Đó là tiếng kêu từ một hộ nghèo nào đó, nhưng chưa chắc ghe nước chịu ghé!

Quay về trang chuyên đề Email    In