Xã hội Email    In

Hãy thả rồng bay lên

Chủ Nhật, 13.4.2008 | 02:35 (GMT + 7)

(LĐCT) - Đã thấy rầm rì từ lâu ý kiến nên lấy lại tên "Thăng Long" cho Thủ đô Hà Nội. Mấy hôm nay về lại Đồng Nai, ngược lên tận Tân Phú để đến Nam Cát Tiên.

Gặp mấy cựu chiến binh của Chiến khu D và mọi nguời đều nhắc tới câu thơ của Huỳnh Văn Nghệ "Từ thưở mang gươm đi mở cõi - Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long".

Đứng bên rừng già thâm u của khu bảo tồn thiên nhiên, hình dung ra Chiến khu D xưa, đọc lên câu thơ ấy mới thấm thía cái tâm thức hướng về nguồn cội của người dân Việt. Cái gì đã khiến cho nhà thơ của bưng biền Nam Bộ lại nhắc đến cái địa danh "Thăng Long" đã đi vào dĩ vãng? Vào thời điểm khởi đầu cho cuộc kháng chiến chống thực dân, người dân độc lập vừa biết đến một Thủ đô độc lập mang tên Hà Nội. Chế độ phong kiến sụp đổ, Huế đã trở thành cố đô. Còn cái chữ "Thăng Long" đã lui về dĩ vãng xa vời lắm rồi.

Khi đức Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra vùng đất đã từng là lị sở thời Bắc thuộc, thành Đại La, nhưng cũng lại là vùng đất không xa sự lựa chọn của các bậc tiền bối, từ An Dương Vương rất xa xưa đã định đô ở Cổ Loa, lại được Ngô Vương Quyền "vị tổ trung hưng thứ nhất" tái lập kinh đô sau khi đánh bại quân Nam Hán (938), hay Tống Bình nơi cửa sông bên hồ Tây của nhà nước Vạn Xuân thời Lý Nam Đế.

Cũng từ việc nhận ra vùng đất "có thế rồng cuộn, hổ ngồi, ở giữa Nam, Bắc, Đông, Tây, tiện hình thế núi sông sau trước, đất rộng mà bằng phẳng, chỗ cao mà sáng sủa, dân cư đông đúc mà không bị ngập lụt, muôn vật rất thịnh và phồn vinh..." từ thời khắc đầu tiên dừng thuyền ngự ở hồ Tây mà Lý Thái Tổ hình dung ra cảnh tượng để định danh cho kinh đô mới của nhà Lý là "Rồng Bay Lên".

Thăng Long trở thành tên gọi duy nhất của hai triều đại Lý-Trần đã làm nên nền Văn minh Đại Việt tổng cộng ngót 4 thế kỷ. Nhà Hồ sai lầm khi muốn dời đất vào miền quê Thanh Hoá để lập Tây Đô nên Thăng Long còn được gọi là Đông Đô, giống như nhà Mạc sau này muốn lập Dương Kinh ở vùng Kiến An mà rốt cuộc đều thảm bại. Cái tên Đông Đô từ đó vẫn dai dẳng tồn tại đôi khi được biến thể thành Đông Quan (thời Minh thuộc) hay Đông Kinh như để định vị mối tương quan đối với vùng đất tổ của họ Lê.

Nhưng trong suốt chiều dài của triều đại dài nhất và cũng nhiều biến động nhất ấy (nội chiến Lê-Mạc, Trịnh-Nguyễn phân tranh, Chiêu Thống, Nguyễn Ánh cầu ngoại viện...), cái tên "Thăng Long" vẫn hiện diện cả trong tâm thức lẫn văn chương và cả trong chính sử như một giá trị không thể phai nhạt.

Triều Tây Sơn làm nên sự nghiệp lớn nhưng lại đoản mệnh có thể vì cái chết bất ngờ của vị Hoàng đế Quang Trung khi mới chớm cái tuổi "tứ thập nhi lập". Nhưng có thể còn vì một nguyên nhân sâu xa hơn thế? Lần cuối cùng "Thăng Long" trở nên rực rỡ có lẽ là vào Mùa Xuân Kỷ Dậu (1789), khi Hoàng đế Quang Trung của Nhà Tây Sơn đại phá quân Thanh... làm nên cái cảnh tượng:

"Mây mờ lại tan, trời lại sáng,/ Đầy thành già trẻ mặt như hoa/ Chen vai sát cánh cùng nhau nói/ Kinh đô vẫn thuộc núi sông ta...". Tác giả những vần thơ hào sảng này là Ngô Ngọc Du người đã tận mắt chứng kiến sự kiện. Ông đã đặt tên cho bài thơ là "Long Thành quang phục kỷ lược" như để hy vọng một thời phục hưng cho kinh thành Thăng Long đã đến. Nhưng điều đáng tiếc là Hoàng đế Quang Trung dù đã trở thành "rể của Thăng Long" mà vẫn còn e ngại cái mảnh đất mà đối với ông có vẻ còn xa lạ này. Vì thế mà Quang Trung cũng hành xử như Chúa Nguyễn AÁnh sau này trở thành Hoàng đế Gia Long, vẫn quyết định đô ở Phú Xuân (Huế).

Phải chăng vẫn là cái lý do như Gia Long đã quan niệm: "Dân tình Thăng Long kiêu bạc, ở Phú Xuân dân số đông đúc, phong tục thuận lương, các Thánh (tức các vị chúa Nguyễn) đã đóng đô ở đây. Phú Xuân ở gần nước, con đường đi về triều cống khắp nước cân nhau, hình thế địa lý phù hợp với quan niệm phong thuỷ, có núi trước án, có sông bao quanh, có đảo ở hai bên tả hữu... địa thế quân sự vững vàng, có biển trước, núi sau, thuận tiện cho cả lúc bình thời cũng như khi hữu sự".

Cái nhìn tưởng như sáng sủa ấy đã đẩy vương triều Nguyễn vào ngõ cụt khi nó luôn e ngại bị khuất lấp bởi cái uy linh vốn có của Thăng Long. Sử ghi rõ một chuỗi những việc làm của triều Nguyễn: Rời đô vào Huế, Thăng Long chỉ còn là Bắc Thành như Gia Định thành ở phương Nam; cải chữ "Long" từ nghĩa là "Rồng" biểu tượng của vương triều thành nghĩa "thịnh" chỉ là sự phát đạt; phá tường thành hạ thấp độ cao rồi phá đi xây lại theo thức "Vauban" như mọi tỉnh thành; bằng một cải cách đơn vị hành chính trên toàn quốc Vua Minh Mạng đặt tên "Hà Nội" (1831) coi như một tỉnh như mọi tỉnh lẻ khác.

Có nhà kinh tế (*) ngồi tính chi ly rằng nhà Hồ rời bỏ Thăng Long vào Tây Đô tồn tại được 10 năm (1397-1407); nhà Tây Sơn không chọn Thăng Long tổng cộng được 14 năm, nhà Nguyễn (1802-1945) duy trì kinh đô ở Huế được ngót một thế kỷ rưỡi thì quá nửa thời gian là chiến tranh, loạn lạc và rơi vào thân phận bù nhìn, để nhấn mạnh rằng dù có muốn vùi dập thì con Rồng trong tên gọi "Thăng Long" vẫn còn đấy.

Trở lại với cái tên "Hà Nội", Vua Minh Mạng học cách định danh của người phương Bắc định vị toạ độ theo hình thế núi sông,  khác với truyền thống vốn có của ông cha ta thuờng lấy những mỹ tự gửi gắm những ý tưởng về sự ổn định, phát triển hay sự sung túc để định danh các đơn vị hành chính.

Vì thế mà các từ như "An", "Phú", "Quảng", "Ninh". "Phú","Hưng".... thường được chọn để ghép thành tên các tỉnh. Không biết vì lẽ gì cái cách đặt tên theo định vị một con sông chỉ dành cho đất Thăng Long xưa ("Hà Nội" chỉ có nghĩa là nằm bên trong con sông) và ngoài ra cũng chỉ có thêm một tỉnh nữa kèm bên nách Hà Nội là "Hà Đông".

Có người suy rộng ra rằng cái thâm ý của người đặt tên "Hà Nội" là lấy con sông để nhốt con rồng (!?). Như thế, cái tên "Hà Nội" vừa là sự hạ thấp vị thế của mảnh đất này khi không còn là kinh đô của đất nước.

Dẫu sao thì cho đến nay, cái tên "Hà Nội" đã tồn tại đến 177 năm. Dù không còn là kinh đô thì người Hà Nội cũng gìn giữ nó như một vùng đất văn hiến. Những Khuê Văn Các, tháp Bút, đài Nghiên, Hội Khuyến thiện, Trường Đông Kinh Nghĩa thục…vẫn là sự nối tiếp của một thời vang bóng.

Hà Nội thời thuộc địa có lấy lại một chút vị thế khi nó được đô thị hoá và trở thành thủ phủ của Bắc Kỳ, bán thủ phủ của xứ Đông Dương (cùng Sài Gòn).

Hà Nội trở thành Thủ đô của nước Việt Nam Độc lập gắn liền với thành quả của cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 và được ghi nhận trong Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Hà Nội trải qua những cuộc chiến tranh vệ quốc trở thành "niềm tin và hy vọng", Hà Nội đang Đổi mới để trở nên hiện đại. Hà Nội là sắp phá cái thế "nằm bên trong con sông" khi nó đang vươn lên phía Bắc để trở thành thành phố có hai bờ sông, trùm sang phía Đông và phía Tây ôm trọn cả xứ Đoài.

Vậy thì cũng là có lý khi đưa ra cái ý tưởng chúng ta thả con rồng bị nhốt bởi dòng sông để nó vươn lên trời cao như người sáng lập ra nó đã gửi gắm khi chọn cho kinh đô của quốc gia một hình tượng không có gì có thể đẹp hơn, không gì có thể có ý nghĩa hơn: "Thăng Long". Dịp kỷ niệm ngàn năm này chính là vận hội cho một ý tưởng như vậy (?!).

(*) Xem bài của TS Phạm Gia Minh trên Vietnam Net 8.4.2008

Quay về trang chuyên đề Email    In

Clip toàn cảnh cháy chợ Quảng Ngãi