Văn hóa Nghìn năm Thăng Long Email    In

Liệu có khả năng rút vốn chứng khoán ồ ạt?

Thứ Hai, 26.2.2007 | 09:01 (GMT + 7)

(LĐ) - Thông tin đồn thổi về việc Chính phủ áp dụng các biện pháp thắt chặt luồng vốn gián tiếp vào thị trường chứng khoán (TTCK) đã được đích thân Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng phủ nhận. Tuy nhiên vẫn tồn tại ý kiến cho rằng có thể xảy ra hiện tượng đầu cơ và rút vốn ồ ạt, làm tổn thương thị trường.

Lao Động đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Hoàng Hải - Tổng Thư ký Hiệp hội Nhà đầu tư tài chính (VAFI) - về khả năng xảy ra kịch bản này.

- Ông có thể đánh giá khái quát vai trò của dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đối với sự phát triển của TTCK thời gian gần đây và những quan ngại về ảnh hưởng tiêu cực có thể xảy ra?

- Thời điểm cuối năm 2006, số tổ chức nước ngoài (TCNN) mở tài khoản đã tăng đột biến tới 5 lần so với thời kỳ đầu năm, nâng tổng số TCNN hiện diện lên con số khoảng 150. Đặc biệt trong số này có những tổ chức toàn cầu như Citi Group, Dutch Bank...

Đáng chú ý là đa phần các tổ chức mới này chỉ đầu tư trên TTCK tập trung chứ không tham gia thị trường OTC nên sức cầu có sự gia tăng đột biến. Dòng vốn này đã kích thích lượng tiền lớn trong nước đổ vào TTCK, tạo nên sự sôi động chưa từng có. Tính thanh khoản được cải thiện đáng kể. DN niêm yết có cơ hội huy động vốn hết sức thuận lợi.

Nhìn chung, dòng vốn này đã tác động tích cực đến thị trường và cho đến nay vẫn chưa có biểu hiện tiêu cực nào. VN-Index trong một thời gian ngắn đã tăng hơn 300% và được đánh giá là quá nóng dẫn đến những lo ngại nhất định.
 
Tuy nhiên, để đánh giá thị trường nóng như thế nào, các cơ quan quản lý cần xem xét đầy đủ các nguyên nhân.
 
Vừa qua, NĐTNN tham gia thị trường với chiến lược mua và nắm giữ các blue-chips. Việc tăng giá chủ yếu xuất hiện ở nhóm CP này. Hiện tượng tăng giá "ăn theo" chỉ xuất hiện ở một số CP chứ không phải toàn bộ.

TTCK tăng trưởng với tốc độ cao thể hiện bước ngoặt mới trong quá trình phát triển. Vấn đề lo ngại hiện nay chỉ ở chỗ một bộ phận NĐT cá nhân mới trong nước quá vội vã và hăng hái tham gia thị trường trong khi kiến thức còn hạn chế, chứ không phải hiện tượng đầu cơ ngắn hạn của các TCNN.

- Có quan điểm cho rằng, dòng vốn đầu cơ ngắn hạn có thể gây ra những đổ vỡ nếu có lượng vốn lớn ồ ạt rút ra khỏi thị trường trong thời gian ngắn. Ông đánh giá khả năng này như thế nào?

- Khả năng ồ ạt rút vốn trong thời gian ngắn rất khó xảy ra. Thứ nhất, muốn rút vốn NĐTNN phải bán CP ra. Việc bán ra ồ ạt rất dễ nhận thấy và khi đó câu hỏi đặt ra là liệu họ có bán được không khi nhiều NĐTNN cũng rất tỉnh táo. Việc phá giá sẽ gây bất lợi cho họ trước tiên.

Thứ hai, chính sách quản lý ngoại hối hiện tại rất tốt. Về tỉ giá, ta vẫn đang duy trì và kiểm soát được chính sách đồng nội tệ yếu. Ngoài ra, VND vẫn chưa được tự do chuyển đổi ngoài biên giới. TCNN vào VN phải hoán đổi ngoại tệ thông qua hệ thống NH trong nước, nên khả năng đầu cơ tiền tệ rất thấp.

Đặc biệt, VN hiện áp dụng quy định duy trì hạn mức trạng thái ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối. Do đó lượng ngoại tệ không thể dồn dập vào thị trường (so với khả năng bình thường) vì phải phụ thuộc khả năng sẵn sàng chuyển đổi của các NH.
 
Việc chuyển ra với một khối lượng lớn trong thời gian ngắn cũng khó vì khả năng nắm giữ ngoại tệ tại NH có giới hạn, trong khi NHNN hoàn toàn có thể điều tiết lượng cung.

Khi trao đổi với nhiều TCNN, họ cũng nhận định dòng vốn đầu tư ngắn hạn nước ngoài sẽ phải đối mặt với những rủi ro này. Tôi tin rằng những tổ chức đầu tư lớn khi vào VN đã hiểu rất rõ về chính sách quản lý ngoại hối của NHNN và họ phải xác định để đầu tư thành công ở VN thì định hướng cơ bản là đầu tư dài hạn.

- Có ý kiến cho rằng nên áp dụng các biện pháp kỹ thuật như giới hạn rút vốn sau 1 năm để "giữ" dòng vốn ở lại, hạn chế tình trạng đầu cơ. Theo ông, cách này có khả thi?

- Đa phần các TCNN khi đầu tư vào VN thì bản thân họ cũng đi huy động vốn ở các trung tâm tài chính quốc tế, bất kỳ sự hạn chế nào cũng ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn vào VN.

Vấn đề lớn làm cho các NĐTNN lo lắng (kể cả NĐT dài hạn) là nếu áp dụng giải pháp trên thì thủ tục rút vốn sẽ vô cùng phức tạp. Làm thế nào để phân biệt được vốn ngắn hạn và vốn dài hạn?

Giả sử một NĐT quản lý uỷ thác cho 50 khách hàng, trong quá trình đầu tư vào VN, sẽ có một lượng vốn liên tục đổ vào VN tại nhiều thời điểm và cũng sẽ có NĐT rút vốn ra. Đây chỉ là một trường hợp đơn giản. Thủ tục rút vốn phức tạp sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ NĐT.

Theo chúng tôi, các biện pháp kỹ thuật để thực hiện vô cùng khó. Nếu việc rút vốn mà mất vài tháng thì rất ảnh hưởng đến luồng vốn đầu tư gián tiếp vào VN.

- Xin cảm ơn ông!

"Theo quy định, các TCTD được phép hoạt động ngoại hối chỉ được nắm giữ tổng lượng ngoại tệ tối đa không quá 30% trên vốn tự có vào thời điểm cuối ngày, không được phép vượt giới hạn trên trong kinh doanh mua bán ngoại tệ. Nếu trong ngày vượt giới hạn trên thì NH phải bán ra cho NH khác hoặc NHNN. Đây có thể coi là cái van điều tiết lượng ngoại hối vào và ra".

Quay về trang chuyên đề Email    In