Thứ Tư, 20.1.2010 | 08:02 (GMT + 7)
Nơi đây không chỉ địa hình hiểm trở, núi đá xếp tầng, mà cuộc sống người dân luôn triền miên trong cơn khát nước, đặc biệt với đợt đại hạn kéo dài hiện nay.
10 xã không có một mỏ nước
Từ trung tâm huyện Hà Quảng vào đến trung tâm của Lục Khu hơn 20km. Những cơn gió lạnh buốt như cắt da cắt thịt của mùa đông vùng biên cương, con đường treo leo, lởm chởm đá chạy ngoằn nghoèo vắt qua những dãy núi dựng đứng như thách thức người phương xa.
Thỉnh thoảng chúng tôi phải xuống xe để trợ giúp cho người xe ôm, nhưng chiếc xe máy dã chiến vẫn bị đảo lên, đảo xuống, xô phải, trượt trái như gã say rượu. Vừa tới trụ sở UBND xã Thượng Thôn, ông Chủ tịch Hoàng Văn Long đã hỏi: Chắc anh lên đây công tác tìm hiểu về tình hình khô hạn phải không? Đã 4 -5 tháng nay cả khu vực này không có trận mưa nào. Các bể lu, bể vuông chứa nước mưa dự trữ của bà con từ lâu đã khô cong. Vùng cao đang trong cơn khát trầm trọng.
Cho đến bây giờ ông già Hoàng Chung Quảng xóm Lũng Mủm, xã Thượng Thôn vẫn nhớ như in lời dặn của người cha: “Giọt nước ở Lục Khu này quý như hạt ngọc, phải sử dụng sao cho thật tiết kiệm nhất”. Chẳng riêng gì ông Quảng người dân vùng cao Lục Khu ai cũng thấu hiểu sự quý giá của giọt nước nơi đây.
Ông Quảng nhớ lại: “Thời cha ông mình, khi chưa xây được các bể lu, bể vuông để chứa nước, bắt đầu vào mùa khô 14 xóm của xã Thượng Thôn như Lũng Giểng, Lũng Mủm, Lũng Hóng... lại kéo xuống Lũng Nặm cách xa 5 đến 7km để lấy nước về. Đi từ tờ mờ sáng đến lúc chạng vạng cũng chỉ lấy được 2 gánh. Cảnh lấy nước đông như đi hội, nước múc nhiều quá sùi lên đục ngầu vẫn phải lấy về cho lắng xuống để dùng”.
Có lẽ chẳng nơi nào hạt nước lại được người dân tận dụng triệt để như ở nơi đây. Từ gáo nước dùng đánh răng, đến những chậu nước dành để tắm giặt, rửa rau xong lại được đổ xuống máng cho trâu bò, lợn uống. Không hạt nước nào bị bỏ phí. Anh Đàm Văn Huỳnh cán bộ xã Thượng Thôn cho biết, nếu không làm như thế nước đâu mà đủ.
Theo Phòng NNPTNT huyện Hà Quảng, ở Lục Khu điều kiện khắc nghiệt, qua khảo sát trong 12 xã thì có đến 10 xã không có mỏ nước, không có suối chảy, hàng năm lại mưa ít. Chính vì thế người dân nơi đây đã được nhà nước hỗ trợ để xây các bể lu, bể vuông dự trữ nước mưa để dùng dần.
Qua các dự án hỗ trợ được triển khai từ năm 1986, 1989, 1995... Lục Khu có hơn 3.000 hộ, với trên 17,5 nghìn nhân khẩu, trung bình mỗi hộ có từ 3 – 5 bể lu, có nhà hàng chục chiếc (mỗi chiếc đựng được 2m3) hoặc 2 bể vuông (mỗi bể chứa 6m3). Khi vào mùa mưa tháng 6 - 7 bà con đã phải tích nước dự trữ.
Bên cạnh đó ở các xã Lục Khu lại được xây thêm bể công cộng với sức chứa 800m3. Dân dùng hết bể dự trữ ở nhà lại ra bể công cộng dùng. Nhưng với cách dùng tiết kiệm nhất may ra đáp ứng cho những năm mưa thuận gió hòa.
1m3 nước giá 130 nghìn đồng
Dẫn chúng tôi ra thăm hồ Lũng Táy, ông Dương Văn Chủng cán bộ xã Thượng Thôn không khỏi giật mình khi nhìn xuống lòng hồ thấy mực nước vơi đi quá nhanh. Chỉ có vài ngày không ra nay ông đã phải chứng kiến mực nước xuống đến đáy. Xã Thượng Thôn được xem là nơi thiếu nước trầm trọng nhất ở Lục Khu, nên được đầu tư xây dựng hồ chứa Lũng Táy với trữ lượng lên đến 3.000m3.
Công trình này vừa được nghiệm thu vào tháng 9.2009, chưa kịp xả nước để tránh mùi hăng độc của ximăng thì mùa khô thiếu nước đã ập đến. Chẳng còn cách nào khác, bà con trong xã Thượng Thôn cộng thêm 2 xóm thuộc xã Nội Thôn lũ lượt tìm về lấy nước. Theo tính toán của ông Chủng mặc dù hồ nằm ở trung tâm xã nhưng quãng đường về đây cũng chẳng hề đơn giản. Gần nhất như xóm Lũng Táy cũng phải 2km, xa như Lũng Giểng phải 5km.
 |
| Người dân phải đi bộ cả buổi để gánh nước về. |
Anh Hoàng Văn Phùng xóm Nặm Giặt, Thượng Thôn cho biết, nhà anh cách xa hồ 4km, ngày phải đi 4 chuyến xe máy, đựng vào can nhựa mỗi chuyến được 40 lít mang về, dùng tằn tiện cho 5 nhân khẩu và số gia súc trâu bò, lợn lên đến 8 con. Ông Chủng tính nhanh, ngoài nước ăn dùng cho người, ở đây mỗi hộ có trung bình 2 – 3 con trâu bò, mỗi con phải có 10 lít nước/ngày. Việc đi lấy nước choán hết thời gian chẳng còn làm được việc gì.
Đối với những gia đình có điều kiện, gần đường cái nên có thể dùng xe máy để đi chở nước. Còn đa số nhà nằm lọt thỏm giữa thung lũng, hoặc triền núi chỉ có cách dùng ngựa đi thồ hoặc gánh bộ. “Những trường hợp như thế đi từ sáng đến trưa cũng chỉ lấy được 2 chuyến” - ông Chủng nói.
Tranh thủ giờ buổi sáng không lên lớp, cô giáo Lưu Bích Ngọc -Trường THPT Lục Khu đi xe máy mang can nhựa ra hồ Lũng Táy chở nước. Cô tâm sự, điều ngại nhất của cán bộ, giáo viên lên đây nhận công tác đó là tình trạng thiếu nước sinh hoạt. Mỗi người dùng tiết kiệm trung bình cũng phải 20 lít/ngày. Đi lấy nước xa đến vài cây số, đường lại khó nhiều người phải dùng biện pháp thay áo quần rồi gói lại chờ ngày nghỉ đi về thăm nhà giặt luôn thể.
Nhìn xuống lòng hồ với trữ lượng 3.000m3, giờ mức nước chỉ còn chừng 1/5, tôi ái ngại hỏi ông Chủng: Mỗi ngày trung bình có hàng trăm người về đây lấy nước, giặt giũ, lượng nước chỉ còn tính theo ngày, ở đây mà cạn bà con ta sẽ đi đâu lấy? Ông Chủng hướng mặt chỉ về xa xăm nơi bị những dãy núi cao che khuất, ông nói: “Về Lũng Nặm, cách đây 7 – 8km, việc đi lấy nước của bà con sẽ gian nan hơn rất nhiều”.
Đến thăm công trường xây dựng Trường THPT Lục Khu, khi thấy chúng tôi hỏi về nước, anh Trần Xuân Đắc cán bộ quản lý Cty xây dựng Cao Hà (Cao Bằng) lắc đầu ngao ngán: “Để có nước nhào vữa xây dựng cũng như sinh hoạt cho công nhân chúng tôi phải mua 1m3 nước giá 130 nghìn đồng, xe chở từ Nặm Nhũng cách 7km về. Trung bình mỗi ngày mua 30m3 nước. Nhưng sắp tới mỏ nước này không còn đủ, nên Đồn biên phòng Nặm Nhũng giữ để cho dân dùng, việc chở nước phải đi tận Nà Giàng cách 16km giá còn đội lên nhiều”.
Thế mới biết mỗi công trình xây dựng ở nơi đây giá trị đến nhường nào, chỉ một giọt nước thấm xuống đất vùng cao thôi đã chứa bao sự gian nan.
Nguy cơ thiếu đóiVấn đề tìm nước cho Lục Khu hàng chục năm qua vẫn luôn là bài toán khó giải. Huyện Hà Quảng cũng nhiều lần phối hợp với Viện Địa chất VN đầu tư khoan thăm dò nhưng cả vùng Lục Khu chỉ có 2 mũi khoan có nước ở độ sâu hơn 100m.
Phương án xây những bể vải địa với trữ lượng lớn đã được thực hiện tại một số xã, song dường như nó còn quá khiêm tốn so với điều kiện khắc nghiệt của nơi đây mỗi khi mùa khô hạn đến, đặc biệt là những năm đại hạn.
Ông Bế Văn Thiện – Phó phòng NNPTNT huyện Hà Quảng cho biết, theo dự báo của Trung tâm Khí tượng thủy văn quốc gia thì đến tận tháng 4 mới có mưa. Căn cứ theo tình hình hiện nay UBND huyện đã lên phương án trình UBND tỉnh có kế hoạch dùng xe chở nước lên hỗ trợ cho bà con. Phương án này cũng nhiều lần được thực hiện trong các mùa khô hạn trước. Có thể thấy về nước sinh hoạt người dân sẽ được quan tâm, dù trong điều kiện tối thiểu nhưng ít ra vẫn có nước để dùng, dù phải gắng gượng chắt chiu.
Còn với sản xuất thì sao? Trong 12 xã với diện tích 3.150ha đất canh tác, chen lẫn giữa những mỏm đá lởm chởm. Chỉ trồng được ngô, đậu tương, lạc. Ông Thiện cho biết, so với thời điểm này năm ngoái bà con Lục Khu cơ bản đã cày xong, chờ Tết Nguyên đán xong là tra ngô.
Còn năm nay vì thiếu mưa nên ruộng rẫy ở Lục Khu chưa cày được tí nào. Vụ sản xuất đông – xuân bị đình đốn, nguy cơ thiếu đói rất cao. Cùng với đó số lượng đàn gia súc được dự báo có nguy cơ giảm đi nhiều, cho dù việc phát triển chăn nuôi đã được đưa vào nghị quyết của HĐND huyện.
Nhưng với sự khắc nghiệt của thời tiết hiện nay khi thức ăn chăn nuôi không còn, trên những triền núi cỏ cây đã chết khô vì hạn hán. Bà con Lục Khu lại thêm thiệt thòi khi dắt những con trâu, bò tài sản còn lại của mình xuống chợ bán vội trước sự ép giá của thương lái.