Thứ Ba, 25.5.2010 | 08:16 (GMT + 7)
Một số đối đối tác quan trọng của Việt Nam sau khi gia nhập WTO như Nhật Bản, Trung Quốc, Hoa Kỳ, EU, Nga, khu vực ASEAN.
Lượng vốn FDI thu hút tăng mạnh, tạo cơ hội thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, các chuyên gia kinh tế cho rằng, cũng không thể phủ nhận những tồn tại và yếu kém nội tại của nền kinh tế. Và trong quá trình hội nhập, người chịu thiệt thòi nhất là nông dân.
Thuế các mặt hàng cắt giảm nhiều
Bà Phạm Chi Lan- nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng - trong buổi đánh giá tác động kinh tế - xã hội sau 3 năm gia nhập WTO ngày 24.5 cho biết, bà đồng tình với bản báo cáo của Viên Nghiên cứu quản lý kinh tế T.Ư (CIEM- Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho rằng, sau ba năm gia nhập WTO, đối tượng chịu tác động nặng nề và thiệt thòi nhất là nông dân sản xuất nhỏ lẻ, nghèo, yếu do thiếu năng lực chuyển dịch cơ cấu sản xuất nhưng chưa được hỗ trợ để giảm thiểu tác động. Các mặt hành nông – lâm sản nhập khẩu vào VN hiện đang chịu mức thuế suất bằng, thậm chí thấp hơn so với cam kết cuối năm 2009.
Theo CIEM, các sản phẩm thịt và phụ phẩm thịt là mặt hàng chịu thuế nhập khẩu cắt giảm nhanh nhất và lịch trình cắt giảm giữa năm 2007 nhanh hơn đáng kể so với cam kết WTO. Cụ thể, thuế đánh vào thịt gia cầm giảm từ 20% xuống 12%, thịt bò từ 20 xuống 12%, thịt lợn từ 30 xuống 20%, ngô từ 5 xuống 3%, trứng các loại gia cầm từ 30 xuống 20%. Các mức thuế trên thấp gần bằng cam kết thuế quan của năm 2012.
Ngay sau khi thuế nhập khẩu các mặt hàng này giảm, lượng nhập khẩu các sản phẩm thịt gia cầm vào VN đã tăng mạnh và gâp áp lực lớn lên ngành chăn nuôi trong nước, nhất là các trang trại, hộ chăn nuôi gia cầm khu vực nông thôn khiến nhiều người nuôi gà phá sản. Tuy nhiên, sau đó Chính phủ đã có sự điều chỉnh lại đối với các mức thuế ở một số mặt hàng: 40% đối với thịt gà, 20% đối với thịt trâu bò, 30% đối với thịt lợn, 5% với ngô và 40% đối với trứng gia cầm.
Dòng sản phẩm thủy - hải sản cũng được cắt giảm, tuy nhiên có tới 2/3 số dòng thuế quan đối với thủy sản nhập khẩu đang thấp hơn mức cam kết dù chưa tới thời điểm thực hiện. Trong khi đó, chúng ta đã mất rất nhiều công sức để đàm phán được mức thuế suất nhập khẩu cao.
 |
| Nông sản xuất khẩu bị ứ đọng tại cửa khẩu. Ảnh: Vinh Hải |
Hỗ trợ nông nghiệp ít
Bà Phạm Chi Lan cho rằng, đầu tư vào nông nghiệp thời gian qua đã giảm xuống rất mạnh: Năm 2000, đầu tư cho nông nghiệp là trên 13% tổng đầu tư xã hội, nhưng tới 2009 chỉ còn 6,8%. Thêm vào đó, theo cam kết WTO, VN đã xoá bỏ toàn bộ trợ cấp nông nghiệp ngay từ khi gia nhập. Theo CIEM, trong khi WTO quy định đối tượng của các chính sách hỗ trợ trong nước là người sản xuất thì VN lại nhường sự hỗ trợ cho các DN kinh doanh xuất - nhập khẩu, chủ yếu là DN nhà nước. Mức hỗ trợ cho nông dân rất ít, nhất là dân nghèo và vùng khó khăn.
Sự hỗ trợ thời gian qua thường mang tính tình thế. Đối với chính sách tín dụng cho nông nghiệp còn chung chung và chưa đủ hấp dẫn cũng như ưu đãi cụ thể. Ngay cả chính sách ưu đãi tín dụng dành cho DN nông nghiệp, trang trại... theo Quyết định 14/2009/QĐ-TTg, các trang trại và hộ nông dân cũng không tiếp cận được do quy mô nhỏ không đáp ứng được yêu cầu. Chương trình hỗ trợ lãi suất tín dụng theo Quyết định 147/2009/QQD-TTg dù mức vay thấp, nhưng nông dân cũng khó tiếp cận do thủ tục phiền hà.
Trong khi đó, đối với một số ngành khác được đầu tư nhiều thì chúng ta lại bảo hộ nhiều bằng các hàng rào thuế quan cao, ví dụ như ôtô hay một số ngành công nghiệp. Theo đánh giá của CIEM, thu nhập trong ngành nông - lâm nghiệp bị tụt hậu, lao động trong ngành này có mức thu nhập thấp nhất và ngày càng có nguy cơ bị tụt hậu khi khoảng cách tiền lương đối với các ngành khác có xu hướng gia tăng. Năm 2006, ngành có mức thu nhập cao nhất khi đó là mỏ và khai thác cao gấp 2,43 lần so với lao động ngành nông - lâm - ngư.
Sau khi hội nhập, khoảng cách này tăng lên 2,91 lần. Cũng theo thống kê, tỉ lệ thất nghiệp của cả nước có xu hướng tăng, đặc biệt là sau hội nhập (đạt 2,91% năm 2009) thì tỉ lệ thất nghiệp cùng nông thôn cũng tăng lên rất nhanh, từ 1,49% năm 2006 lên 2,25 năm 2009. Điều này tạo ra áp lực và thách thức lớn đối với việc bố trí việc làm cho lao động nông thôn trong thời kỳ tiếp theo.
“Có thể nói là sau ba năm gia nhập WTO, nông nghiệp đang chịu thiệt thòi lớn. Trong khi đó, xét về mặt tăng trưởng kinh tế, việc làm, ổn định xã hội thì nông nghiệp có đóng góp vô cùng quan trọng, mà vào những bối cảnh khủng hoảng chúng ta đều biết là nếu không có nông nghiệp phát triển ổn định, không có những nỗ lực của nông dân thì chúng ta khó có thể giữ được sự ổn định và mức tăng trưởng nhất định trong thời gian qua” - bà Phạm Chi Lan nói.
|
Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan: Dường như chúng ta đã lúng túng trong việc ứng phó với hội nhập thời kỳ khủng hoảng. Chúng ta chưa tận dụng được hết cơ hội, trong khi lại sử dụng công cụ hành chính hơi nhiều, làm hạn chế khả năng cạnh tranh và méo mó nền kinh tế. Làm thế nào điều chỉnh được các vấn đề trên là một nghệ thuật.
Trong thời gian qua, sau khi gia nhập WTO, tất cả các điểm yếu của VN đã bộc lộ khá rõ. Phong trào tái cấu trúc nền kinh tế dù có lúc lên khá cao, nhưng gần đây lại ít được nói tới. Nếu không thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế thì chúng ta sẽ không thành công trên con đường hội nhập. Đây là vấn đề cấp bách và lâu dài, chúng ta phải bắt đầu. |