Mạo Khê - xuống, xuống nữa…
Thứ Sáu, 22.12.2006 | 23:43 (GMT + 7)
Nhưng ở đây, câu hỏi lớn luôn đặt ra lại không phải là “tồn tại hay không tồn tại” mà là tồn tại và phát triển như thế nào khi hòn than ngày càng chiếm giữ một vai trò quan trọng trước nhu cầu phát triển của các ngành kinh tế đất nước.
Sức ép giá thành
Ngày cuối năm. Đường mỏ Mạo Khê rầm rập xe than. Nơi tôi có mặt đầu tiên là cửa lò Phân xưởng khai thác 3. Kỹ sư Nguyễn Văn Vĩnh, 36 tuổi, Quản đốc phân xưởng - cho biết: “Khó khăn lớn nhất đối với Mạo Khê của chúng tôi là phải giải quyết bài toán giá thành. Bởi vì ở đây toàn bộ khu vực khai thác đều đã xuống âm. Với một địa tầng vô cùng phức tạp, hòn than phải chịu đủ sức ép về chi phí sản xuất là điều không tránh khỏi”.
Hiện tại, toàn Cty than Mạo Khê gồm 9 phân xưởng hầm lò. Hầu hết các đơn vị đều khai thác từ mức - 80 lên - 25. Các vùng tài nguyên ở độ cao từ 0 đến + 30 từ lâu đã hoàn toàn cạn kiệt.
Và để xuống được tầng khai thác như hiện nay, Mạo Khê đã phải đầu tư liên tục trong nhiều năm liền để phá phay, đào lò xây dựng cơ bản. Chỉ riêng việc triệt tiêu các túi nước ngầm đã phải tốn hàng nghìn tấn ximăng để gia cố địa tầng, chưa kể lắp đặt các thiết bị băng tải, đường goòng, điện, nước.
Còn trên mặt đất, sau sự kiện nổ khí mêtan năm 1999, mỏ buộc phải thiết lập ngay một trung tâm quan trắc quản lý khí mỏ hiện đại gồm 2 hệ thống thiết bị của Ba Lan và Nhật Bản với tổng kinh phí đầu tư gần 20 tỉ đồng.
Khác hẳn với nhiều mỏ hầm lò lớn, Mạo Khê không được phép dừng hoạt động. Do địa tầng phức tạp, hàm lượng mêtan và khí độc cao. Chỉ cần ngừng quạt gió 15 phút đã có thể dẫn tới nguy cơ gây cháy nổ hoặc tử vong vì ngạt khí.
Và như vậy, nếu cộng cả các khoản mục đầu tư vào các khối sản xuất phụ trợ như phương tiện vận tải, sàng tuyển, cơ khí sửa chữa, nhiên liệu, điện năng và chi phí lao động... thì hòn than Mạo Khê luôn phải gánh chịu với một giá thành quá sức nặng nề.
Mặc dù vậy, Mạo Khê không thể không tồn tại. Sự thực, DN này đã bứt lên một cách quyết liệt. Sản lượng than khai thác hầm lò tại đây hàng năm không ngừng tăng vọt. Nếu năm 2000, toàn Cty mới chỉ đạt 776.000 tấn thì năm 2006, tổng sản lượng đã vượt trội gấp 2 lần với số tuyệt đối: 1.500 nghìn tấn.
Việc gia tăng sản lượng chính là yếu tố quan trọng nhất giúp giảm nhẹ giá thành. Để đạt được chỉ tiêu này, một loạt giải pháp cơ bản đã được tiến hành đồng bộ: Tổ chức lại lao động; cơ giới hoá đào lò trên tất cả các bình diện khai thác; đưa giàn chống tự hành vào các tầng vỉa dốc; lắp đặt thiết bị tuyển ướt bằng huyền phù tự sinh song song với hệ thống sàng khô nâng cao chất lượng than thương phẩm.
Và đây cũng chính là mục tiêu số 1 trong chiến lược phát triển của một mỏ hầm lò truyền thống, đứng đầu trong các mỏ hầm lò quy mô lớn nhất của ngành than.
Gương mặt KT3
“KT3” - đó là tên gọi tắt của Phân xưởng khai thác 3 - một trong những đơn vị liên tục dẫn đầu toàn Cty về năng suất và sản lượng từ năm 2003 trở lại đây với mức vượt bình quân từ 120 - 125% - số tuyệt đối là 130.000 - 145.000 tấn than/năm.
“Chúng tôi có 9 tổ sản xuất với 165 thợ lò. Và điều kiện khai thác ở đây hoàn toàn không dễ dàng” - kỹ sư Vĩnh nói. Đây chính là khu vực sâu - 80m. Nhưng vỉa mỏng, độ dốc lớn, không thể sử dụng giá chống thuỷ lực di động mà chỉ có thể dùng vì thuỷ lực đơn - một phương thức bắt đầu bị xem là cổ điển.
Chưa hết, để lấy được hòn than ở đây, những người thợ lò đã phải phá phay, đào hàng trăm mét lò xuyên vỉa và xử lý bêtông đối với túi nước ngầm hàng nghìn mét khối. Một công việc vô cùng nhọc nhằn, mạo hiểm và thời gian không thể tính theo tuần.
Vũ Hữu Đạt - thợ lò bậc 6/6 - một gương mặt điển hình của KT3 về năng suất và ngày công lao động - cho biết: “Tôi có thể làm việc 2 ca liên tục hoặc cả những ngày lễ khi cần thiết. Đối với tôi, thời gian trong lò là vàng bạc. Phải tranh thủ từng giây phút một”.
Người thợ này luôn khiến cho đồng nghiệp phải kinh ngạc về sức làm việc của mình. Dù không ở cương vị chỉ huy, Vũ Hữu Đạt luôn có mặt tại gương lò ít nhất 20 phút đầu ca và bao giờ cũng là người rời vị trí sau cùng vào lúc cuối ca để củng cố hoặc thu hồi vì chống, bảo đảm sự an toàn cao nhất cho đồng nghiệp.
Năng suất trung bình mỗi ngày làm việc, Vũ Hữu Đạt đều chống từ 6 -10 vì lò. Chiều cao mỗi vì 2,2m và khoảng cách là 0,8m. Lò chống đến đâu, khấu than đến đó. Tính giá trị sản lượng thì mỗi vì lò tương đương 2,6 tấn than - một kỷ lục phi thường.
Cũng như nhiều đồng nghiệp, đối với Vũ Hữu Đạt, mỏ là gia đình lớn. Cả hai vợ chồng anh đều làm việc ở đây. Riêng thu nhập của anh một quý là 39 triệu đồng, chưa kể tiền thưởng.
Hai đứa con anh đang học trung học phổ thông và đều là học sinh giỏi từng đoạt giải qua các kỳ thi toán và hoá của Quảng Ninh.
Với anh, đó là điều mãn nguyện và cũng chính là động lực lớn nhất thúc đẩy người thợ lò từng trải này cống hiến không mệt mỏi vì sự lớn mạnh, bền vững của vùng mỏ - nơi mà cả gia đình anh cũng như rất nhiều đồng nghiệp; trong đó có cả vợ con những người anh em thân thiết của anh đã tử nạn và đang được cưu mang ngay trên mảnh đất họ từng gắn bó và sẽ còn gắn bó suốt đời.
Một điều không thể không nói: Hầu hết thợ lò của KT3 tuổi đời đang rất trẻ. Tất cả đều được đào tạo kỹ lưỡng qua hệ thống các trường nghề mỏ và với sức vóc tuổi trẻ và có tri thức nghề nghiệp, tập thể thợ lò KT3 cũng chính là gương mặt của đội ngũ những người thợ mỏ Mạo Khê trong sự nghiệp hiện đại hoá ngành than.
Xuống sâu hơn nữa
Mạo Khê là một vùng mỏ “già” với thời gian khai thác đã 165 năm. Toàn bộ cấp địa tầng từ - 25 đến +30m tài nguyên đã kiệt từ lâu. Tầng sản xuất hiện nay là - 80 lên -25m, nhưng trữ lượng không ổn định và không thể đáp ứng lâu dài.
Chính vì vậy, Mạo Khê quyết định mở diện sản xuất xuống sâu hơn qua hệ thống lò giếng nghiêng - 150, với tổng mức đầu tư 480 tỉ đồng và dự kiến năm 2008 sẽ chính thức đưa vào khai thác.
Như vậy là cùng lúc, dưới tầng sâu này, mọi lực lượng tinh nhuệ đều được huy động. Vừa phá phay, đào lò cơ bản xuyên suốt hai chiều nam - bắc địa tầng, đồng thời lắp đặt ngay các thiết bị: Băng tải, đường goòng, thiết bị cung cấp điện, hệ thống bơm nước cùng hàng loạt công trình phụ trợ.
Còn trên mặt đất, hai dự án lớn cũng sẽ phải triển khai ngay trong năm 2007 là thiết lập một dây chuyền sàng tuyển mới công suất 2 triệu tấn than/năm.
Và dự án quan trọng hơn là lắp đặt 4km đường băng tải kín dùng cho vận tải than từ nhà sàng trung tâm tới thẳng cảng xuất than thay thế hoàn toàn phương tiện ôtô, nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất tác động xấu về mặt môi trường đối với cộng đồng dân cư khu vực...
Tất cả đều không ngoài mục đích chủ động khép kín hoạt động sản xuất - kinh doanh, giảm sức ép giá thành đối với hòn than vì chính sự nghiệp và đời sống người thợ.
Trao đổi với tôi, kỹ sư Phạm Đức Khiêm - Giám đốc Cty than Mạo Khê - nói: “Tương lai bền vững nhất của chúng tôi đang nằm ở chính độ sâu âm (-) 150. Năm 2008, Mạo Khê sẽ phải đạt 1.600 nghìn tấn than hầm lò ở độ sâu này và năm 2010 là 2 triệu tấn. Ngay bây giờ, chúng tôi đã cho ngừng hẳn hầu hết các điểm khai thác lộ thiên để khắc phục nạn ô nhiễm môi trường. Vì thế, phải xuống sâu, xuống sâu nhanh hơn nữa”.