Nén nhang mùa xuân
Chủ Nhật, 17.2.2008 | 03:25 (GMT + 7)
Tôi và Trần Hải chơi thân với nhau lúc còn thơ ấu, từ 8 đến 14 tuổi ở những năm 1959-1964. Hải tuổi Dần, sinh 1950, hơn tôi 2 tuổi. Lúc ấy, Hải có người mẹ vừa bỏ đi lấy chồng khác, biệt xứ, vì nhiều lý do, từ sau khi người cha đi tập kết. Hải ở lại với người cô ruột và bà nội già yếu, khó khăn, chỉ sống được bằng không quá vài chục luống lang trồng trên cát... Người cô bệnh thần kinh đi lang thang suốt ngày đêm, rồi cô ấy bị kẻ xấu cưỡng dâm đến có thai, phải mang con vất bỏ bụi bờ... Bà nội và người cô sau đó cũng sinh bệnh mà mất...
Năm 1964, Hải ước mơ, khao khát được sung vào đội du kích trong thôn. Ước mơ ấy đã thành, nhưng Hải chỉ được bố trí vào đội y tế địa phương để phục vụ chiến đấu. Thời gian sau, Hải bày tỏ nguyện vọng được trực tiếp cầm súng và "nhảy núi" thật sự! Điều này bắt nguồn từ nhiều thôi thúc, vì lý tưởng, như một lẽ sống, và cũng hy vọng rằng, chỉ có "nhảy núi" mới được gặp lại cha mình, dù không biết lúc đó ông ở đâu, tận ngoài Bắc...
Rồi Hải toại nguyện, chỉ mới được toại nguyện một nửa! Đó là được cầm súng! Nhưng chẳng bao lâu sau... giữa chiến dịch Tết Mậu Thân, Hải đã hy sinh cùng một vài đồng đội, không tìm lại được hoàn toàn thân xác.
Năm 1975, người cha tập kết sống chung thuỷ từ miền Bắc mới trở về, ông cô đơn, sống trong cái khó khăn, cái cùng cực của những năm đầu thời bao cấp. Rồi, tâm thần ông cũng bất ổn và thành bệnh mà mất.
Những ngày còn bao cấp, tôi vào nghĩa trang tìm bạn, không có mộ bia, không có tên ghi tuổi... Về lại mảnh vườn xưa của Hải, nơi mà thời thơ ấu chúng tôi vẫn thường được ngóng nhìn hoa tre bồng bềnh nở trắng bên những tổ chim dồng dộc trên cao, nơi chúng tôi thường "đánh trỗng đem u, đánh cù lỗ óc"... thì mảnh vườn xưa đã bị chia cắt cho nhiều người khác, chỉ còn lại một cái am nhỏ trong góc khuất của vườn. Hải đã tan loãng. Không một di ảnh. Không một dòng nhật ký để lại. Chỉ còn đó là sự thật! Tôi bỗng nhiên như vớt vát cho bạn mình bằng lời khấn vội, mà không hề định ý: "Tao về thăm mày đây, Hải ơi!"... Và lòng thấy buồn như đất...
Vào nghĩa trang Tịnh Khê trong những ngày cuối năm lần này, dọc đường vẫn nở đầy hoa cúc cải, và không phải là lần đầu tiên, nhưng tôi vẫn cứ thấy bồi hồi, xúc động!
Câu chuyện về sự hy sinh của Hải trên đây, tôi đã thông tin đến các ông Bí thư Tỉnh uỷ, Bí thư Huyện uỷ và Bí thư ở xã. Tôi được xã trả lời rằng: "...hiện nay còn thân nhân thứ yếu nên chưa được giải quyết chế độ chính sách..."...
Trong đợt về quê lần này, tôi tình cờ được biết mảnh vườn của Hải chỉ cách vườn của hai anh em ông Trần Tề và Trần Cao Minh (*) vài ba trăm mét. Đem câu chuyện này tâm sự với ông Trần Cao Minh thì ông cũng buồn rười rượi, và tôi lại càng day dứt hơn khi ông cho biết thêm rằng, bố của Hải là bác Trần Ngọc Thạch đã từng là một du kích Ba Tơ, chú ruột của Hải là Trần Văn Biên đã từng tham gia đoàn quân Nam tiến từ 1947 và là người lính gần gũi bên cạnh ông Lê Duẩn trên từng con đường đi công tác...
Ngoài ra, một đồng đội khác của Hải còn cho biết, trước ngày hy sinh Hải đã lập gia đình và vợ Hải đã có mang, tuy nhiên chỉ sau vài tháng vợ Hải lại hy sinh khi chưa kịp sinh nở... Những tin ấy lại gây thêm những nỗi buồn xé lòng...
Viết là viết cho Hải, tuy nhiên, còn là viết cho hàng ngàn người khác cùng thế hệ, đã ngã xuống cho độc lập dân tộc, mà hiện nay có thể cũng như thế, họ vẫn không có mộ bia, tên tuổi, không được ghi vào đâu cả...
Nhưng, không thể coi đó là những việc của quá khứ để mà quên lãng, vì đây còn là thước đo về lòng nhân nghĩa và phẩm chất của chế độ!
Có thể coi đây là một nén nhang mùa xuân viếng linh hồn Trần Hải và những người thiếu may mắn cần được vinh danh này!
(*) Ông Trần Tề: Nguyên Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao.
Ông Trần Cao Minh: Nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi.