Người bước ra từ ca khúc "Chị tôi"
Thứ Sáu, 29.5.2009 | 08:26 (GMT + 7)
Tôi được nghe nhiều câu chuyện cảm động về chị. Chị cống hiến cả tuổi xuân cho cái nơi người ta vốn coi là ốc đảo của xã hội, nơi mà bấy giờ người ta kỳ thị, khinh miệt và hắt hủi. Rồi chính ở cái nơi tưởng như cùng cực tuyệt vọng và cô đơn ấy, chị đã nhóm lên trong họ cả tình yêu, cả niềm hy vọng và vui sống.
Một mình nuôi 5 em ăn học
"Chị giống "chị tôi" trong ca khúc của Trần Tiến quá!", tôi ngỡ ngàng thốt lên khi nghe câu chuyện về thời con gái của chị. Ánh mắt chị ngơ ngác: "Vậy ư, thảo nào mọi người cũng hay gọi tôi là "chị tôi", mà tôi cũng không biết ca khúc ấy như thế nào cả". Trong khu nhà ăn yên tĩnh của trại phong đã gần 100 tuổi, tôi hát cho chị nghe câu hát da diết nói về quãng đời của người con gái cũng nhiều hy sinh như chị.
Sinh năm 1957 ở Đại Xuân, Quế Võ, Bắc Ninh, tuổi thơ của chị chưa một ngày êm đềm sung sướng. Cha mất từ thuở lên 9 vì mắc cảm thương hàn, một mình nuôi 6 đứa con thơ, 10 năm sau mẹ chị cũng vì suy kiệt mà ra đi. Lúc ấy, nhà có 5 đứa em, chị phải gạt nước mắt, nghỉ học để làm nông cáng đáng cả gia đình. Trước khi ra đi, mẹ còn căn dặn, bà đã có hẹn ước cho chị nên duyên với người con trai hiền lành cùng làng hơn chị 4 tuổi.
Lo mẹ khóc hết nước mắt, chị chẳng còn tâm trí nào, chỉ nằng nặc đòi được đi tu. Lo ma chay cho mẹ chu đáo xong, chàng trai ngỏ lời thương mến, muốn được san sẻ gánh nặng gia đình với chị, nhưng chị chỉ từ tốn: "Các em em hãy còn nhỏ, em chẳng muốn chia sẻ tình cảm cho ai, chỉ mong cho chúng sớm nên người".
Sớm tất bật làm nông, trưa tranh thủ tráng vài trăm bánh tráng - món nghề thời còn sống mẹ chị truyền lại cho cô con gái cả, chiều muộn lại đi làm hợp tác xã, cứ thế suốt thời con gái chị một mình nuôi 5 em ăn học nên người. Chàng trai cùng làng cũng lên đường đi tòng quân, mỗi lần trở về thăm quê, anh chỉ ghé ngang nhà, hỏi thăm chị trìu mến, rồi lại lặng lẽ lên đường.
Sau mười năm trời đằng đẵng, các em chị đều đã được dựng vợ gả chồng, có hạnh phúc riêng, lúc này anh mới tìm đến chị, khẽ hỏi: "Đến giờ, Xuân tính sao về chuyện gia đình. Anh vẫn chờ em". Đáp lại tấm chân tình ấy, chị thẳng thắn từ chối: "Em chắc sẽ không lấy chồng đâu, em sẽ đi tu".
"Đã bao giờ chị chạnh lòng khi nghĩ tới chuyện tình duyên?" - tôi hỏi. Chị trả lời: "Sống độc thân đã là cách mà tôi lựa chọn từ bé. Tôi muốn đi tu, nhưng rồi cuộc sống đã đưa tôi đến với trại phong, để có thể làm nhiều điều hơn cho mọi người".
Chị mỉm cười rồi bồi hồi nhớ lại: "Nghe tôi nói vậy, anh ấy cũng tôn trọng, không nài ép. Anh ấy chỉ chúc tôi: Nếu em đã tu, hãy cố gắng tu cho thật đắc đạo. Tôi không mong mình phải đắc đạo, nhưng chính lời chúc của anh ấy đã trở thành động lực để tôi vượt qua những mặc cảm và gian khó để một lòng với con đường mà mình đã chọn".
Con đường mà người phụ nữ lạ kỳ ấy đã chọn, ấy là bỏ cả tuổi xuân để nguyện gắn bó suốt đời với trại phong Quả Cảm.

Gia đình hạnh phúc của vợ chồng anh Dũng, chị Hòa ngày nay đều do một công xơ Xuân vun vén.
Chuyện cổ tích có thật
Năm 1982, cuộc sống dần trở nên êm đềm và đỡ khó khăn hơn, khi cả bốn người em của xơ đã dần yên bề gia thất, còn chị thì ổn định hơn với công việc giữ trẻ. Tình cờ, một ngày, chị đọc được cuốn sách "Lạc quan trên miền Thượng" của tác giả Nguyễn Thanh Quang, nói về cha Gioan Cassene dám từ bỏ cuộc sống đủ đầy nơi nước Pháp để tới Việt Nam lập trại phong nhằm giúp đỡ các bệnh nhân tại Di Linh - Lâm Đồng. Tấm gương của cha như một nguồn sức mạnh thôi thúc chị tìm đến với trại phong Quả Cảm, khi bấy giờ còn biệt lập như một thành lũy chứa chất bệnh tật và nhận được vô số sự ghẻ lạnh của xã hội xung quanh.
Tận mắt chứng kiến những cảnh cụ già 80 tuổi chết trong cô độc, lạnh lẽo; chứng kiến những cảnh đời bệnh tật như ở tận cùng của đau khổ, trong lòng chị bỗng nhen lên một quyết tâm mạnh mẽ phải làm một điều gì đó. Thưa chuyện với đức cha: "Thưa cha, con muốn vào cõng các cụ đi khám bệnh", cô gái trẻ quyết định nghỉ dạy tại trường mẫu giáo rồi viết lá đơn tình nguyện xin về gắn bó với trại phong. Trước khi quyết định lên trại phong Quả Cảm, chị vấp phải vô số sự phản đối từ phía gia đình, ai cũng đau khổ vì tại sao chị gái của mình lại "dây với hủi". Có người ác miệng, còn gán cho chị cái biệt danh "Xuân hủi". Nhưng không hiểu từ đâu ra, một nguồn sức mạnh lớn lao đã giúp chị bỏ ngoài tai tất cả...
Lá đơn tình nguyện nộp từ năm 1988, nhưng mãi đến năm 1991 chị mới được chính thức chấp thuận về trại. Điều ấy hẳn cũng không lạ, bởi thời bấy giờ, ở chốn ai cũng muốn lánh xa lại có người tình nguyện xin vào, khiến cho ban giám đốc nhìn chị với ánh mắt e ngại và cảnh giác. Không nản lòng, trong suốt thời gian ấy, chưa một ngày chị ngừng lao động, hết về Ninh Bình học nghề dệt chiếu, đan làn để về dạy lại những người bệnh, lại lặn lội vào tận Quy Hòa (Quy Nhơn) học một lớp đào tạo y tá để có thêm chuyên môn về chữa bệnh. Năm 1989 chị trở về trại phong làm điều dưỡng và đã gắn bó với trại từ đó tới nay suốt 20 năm.
Đầu năm 1992, thấy các bệnh nhân ai cũng đều khó khăn vì vận động, chị khăn gói lên đường Nam tiến, đến trại phong Bến Sắn để học nghề làm chân tay giả, với hành trang lên đường chỉ vẻn vẹn có vài bộ quần áo cũ 40.000 đồng. Đổi lại những vất vả cơ cực là niềm vui khi chị đã có thể làm được những bộ chân tay bằng nhựa, giúp cho bệnh nhân đi lại dễ dàng hơn. Chị còn kiếm giày dép cũ, tỉ mẩn "đo ni đóng giày" để làm nên những đôi giày đôi dép cho bệnh nhân của mình.
Nhìn những bữa cơm đơn sơ của các cụ bệnh nhân ở trại phong Quả Cảm ngày nay, không ít người phải chạnh lòng: Chỉ là món cơm với chút canh, gần như có rất ít thịt với khẩu phần ăn mỗi tháng chỉ là 200.000 đồng một bệnh nhân. Trại thu của mỗi bệnh nhân 150.000 đồng, để lại 50.000 cho các cụ ăn sáng, tính ra mỗi ngày, chỉ có 5.000 đồng chia làm ba bữa. Thế mà mỗi tháng, chị cùng một điều dưỡng viên khác tên Yên cũng cùng cất từ khoản tiền lương ít ỏi mỗi người 1 triệu mỗi tháng để có tiền tăng gia cho các cụ. Mà tiền lương của chị, nào có nhiều nhặn gì, chỉ có 1.800.000 đồng. Ngay cả cây trái cũng tự trồng, rau củ cũng tăng gia để khỏi tốn kém.
Nhưng thành quả lớn nhất của chị, đó là những mầm sống nảy sinh từ tình yêu đơm hoa kết trái, mà những tình yêu ấy đều có bàn tay của "bà mối" Xuân. Suốt 20 năm trời, chị đã mai mối cho cả chục cặp vợ chồng bệnh nhân nên duyên.Nhờ chị, họ đã tìm đến với nhau, lập nên những gia đình nhỏ, cho ra đời những mầm sống mới, ở nơi đã tưởng như chỉ có nỗi buồn và sự ai oán trong tuyệt vọng.
Hai vợ chồng Bùi Thị Hòa và Nguyễn Văn Trung tổ chức đám cưới đầu năm 1996 nay đã có hai cháu trai kháu khỉnh. Căn nhà của cả hai nằm chênh chếch trên một ngọn đồi có cây ăn trái, rợp bóng mát, nơi hàng ngày vang tiếng cười trẻ thơ và bóng chị Hòa đi về sau mỗi ngày làm cấp dưỡng ở trại.
Anh Trung xúc động kể: "Từ khi phát hiện ra mình bị phong, em đã từng đau khổ, tuyệt vọng và đi lang thang khắp nơi. May mà có xơ Xuân, cuộc sống của em đã chuyển qua một trang mới, chứ nếu không, không biết bao giờ em mới lấy vợ, có nhà".
Hồi ấy, chị Hòa là con em bệnh nhân trại phong ở Đông Anh, Sóc Sơn, thường xuyên qua Quả Cảm chơi cùng các bá. Thấy đôi trẻ mến nhau, chị Xuân đã vun vén cho cả hai, rồi tất bật lo làm đám cưới cho đôi trẻ. "Ơn của cô Xuân với chúng em như cha mẹ vậy", anh Trung bồi hồi nhớ lại.
Cùng chung niềm vui hạnh phúc ấy còn có cả đôi vợ chồng Trần Văn Chất - Dương Thị Đoàn. Bén duyên sau một lần giao lưu giữa hai trại, lại được xơ Xuân hết lòng ủng hộ chẳng mấy chốc mà đôi trẻ nên duyên. Đám cưới được tổ chức năm 2001, không có áo cưới, cũng chỉ có 1 triệu đồng kinh phí nhưng là niềm hạnh phúc lớn lao đối với người thanh niên trẻ, khi trước đó không lâu, anh từng chỉ muốn lìa xa cõi đời vì mặc cảm với căn bệnh mình mang.
"Thả" cuộc đời vào làng phong
"Cô đã thả cả cuộc đời của cô vào đây rồi chị ạ" , anh Trung xúc động nói về xơ Xuân. Hơn 100 bệnh nhân của trại, già trẻ lớn bé, không ai đều không âu yếm gọi chị là xơ, xưng em.
Trại phong được khang trang, đẹp đẽ như ngày nay, cũng nhờ có tay cô Xuân hết lòng tìm kiếm nguồn tài trợ ở khắp nơi, xin đất, cất hộ. Sau hôn lễ, đôi nào chưa có nhà, chị Xuân chạy vạy quyên góp tiền xây nhà ngay tại trại phong; đôi nào không có đất, chị lại thuyết phục lãnh đạo trại phong chia cho một phần đất trên quả đồi của trại để trồng cây ăn quả. Đến nay, khắp trại phong đã phủ một màu xanh thắm của cây ăn trái và vang tiếng cười trẻ thơ. Nhiều con em của bệnh nhân phong đã được học hành, đỗ đạt và thành đạt.
Cứ lâu lâu, những bệnh nhân phong chân giả tay giả đi lại khó khăn, nhưng cũng cố tìm đến nhà chị Xuân ở đầu hồi, khẽ đặt gióng mía, củ khoai, quả xoài, có khi là bó rau cho chị bồi dưỡng. "Mở cửa ra thấy những món quà giản dị ấy, tôi vui lắm. Được sống giữa tình thương của mọi người thì còn gì bằng", xơ xúc động.Nhìn xơ kể về câu chuyện ấy, ánh mắt ánh lên niềm hạnh phúc, mới hiểu vì sao chưa một lần xơ mưu cầu hạnh phúc cho riêng mình. Xơ cười hiền: "Cả cuộc đời tôi chẳng có gì, nhưng có nhiều nhất là tình yêu thương và những thành quả về con người".
Căn phòng của xơ ở trại phong giờ chỉ đơn sơ có một bộ bàn ghế và một chiếc giường đơn đã cũ. Mỗi bữa cơm chị cũng chỉ có sấu ngâm và muối vừng để đưa cơm. Thế nhưng sống bằng niềm tin vào đức thánh ân, cùng tấm lòng trinh nguyên hết lòng vì mọi người.
Trước khi ra về, xơ cho tôi xem tấm ảnh, chụp hình xơ bế một sinh linh bé nhỏ mới chào đời. Sinh linh ấy là con của một bệnh nhân tàn tật tên Dũng ở trại phong Phú Bình, từng được xơ đưa đi chữa bệnh, năm 1991 đã lấy vợ, xây nhà, đẻ con. Anh Dũng cứ một mực nhờ xơ Xuân đặt tên cho cháu. Đứa bé được trao cho cái tên Hồng Phúc, như một hy vọng và niềm tin của xơ về những điều đẹp đẽ cho tương lai. Còn tôi thì luôn tin rằng, người phụ nữ kỳ diệu ấy sẽ còn không ngừng đem lại hồng phúc cho thế gian này.