Nhộn nhịp "cò" vải
Thứ Sáu, 12.6.2009 | 08:22 (GMT + 7)
Tư thương tranh nhau "cướp" mối
Thời điểm này năm ngoái, khi đặc sản vải thiều Lục Ngạn đang vào mùa bội thu, bà con nông dân phải "ngậm đắng nuốt cay" bán với giá rẻ như cho (giá thấp đỉnh điểm là 1.000đ/kg) mà vẫn bị lái buôn ép giá. Song năm nay tình hình đã thay đổi. Mất mùa dẫn đến thiếu nguồn cung, vải thiều trở nên "sốt" chưa từng thấy, "cò" vải do đó được dịp tung hoành.
Sáng 11.6, dọc tuyến đường gần 40km rẽ về huyện Lục Ngạn, hàng chục điểm thu mua vải hoạt động nhộn nhịp, đường tắc liên tục. Cảnh sát giao thông, dân quân tự vệ được huy động tối đa để dẹp đường. Tại ngã ba Kép (xã Hồng Giang), hàng trăm xe máy chở vải chạy rề rề chào hàng. Vừa thấy bóng xe vải, các tay "cò" đua nhau túa ra đường, thấy xe vải nào ngon mắt là lập tức chen nhau chèo kéo.
Anh Duy - chủ sọt vải trông bắt mắt với những chùm vải mập mạp - vừa trờ xe vào điểm tập kết, lập tức đã được các tay "cò" nhòm ngó. Một tay ra giá: "12 nghìn bán không?" thì lập tức anh Duy lắc đầu, hất mặt rất... kiêu rồi đi thẳng.
"Năm nay mất mùa, thiếu vải nên phải giành nhau từng xe may ra mới có vải loại một, loại hai, còn lại toàn vải "ngố"(lai tạp), mẫu mã xấu rất khó buôn" - một tay "cò" cho hay. Vải loại một tại đây được thu mua với giá 12.000 - 15.000đ/kg, loại hai 9.000 - 12.000đ/kg và loại ba 5.000 - 7.000đ/kg.
Hầu hết các chủ vườn cho biết, chưa năm nào "cò" vải nhiều và nhộn nhịp như năm nay. Ngoài lý do khan hàng, các tay "cò" xuất hiện với vai trò trung gian cho các tư thương từ tận Trung Quốc (TQ) trực tiếp sang lấy hàng.
Theo thống kê của Phòng NNPTNT huyện Lục Ngạn, số thương lái TQ năm nay nhiều gần gấp đôi năm ngoái (hơn 60 người). Do mua với lượng lớn, giá cao nên có bao nhiêu vải ngon, chủ vườn tập trung nhập hết cho mối TQ.
Một mối buôn từ TPHCM than thở: "Chúng tôi muốn mua vải ngon cũng khó, toàn hàng "ngố" nên đành huy động tối đa "cò" để trợ giúp".
Mất mùa, được giá
Sau nhiều năm được mùa nhưng giá rớt thảm hại, đây là năm đầu tiên bà con trồng vải tại Lục Ngạn bán vải với giá cao (cao hơn gấp đôi năm 2008). Lý do đơn giản là số lượng vải giảm sút, nên giá vải được đội lên đáng kể.
Ông Chu Văn Báo - Trưởng phòng NNPTNT huyện - cho biết: "Vải mất mùa do ảnh hưởng của cơn bão số 6 và trận lũ cuối năm ngoái, nhiệt độ tháng hai lại tăng kỷ lục nên hạn chế cây ra hoa. Chưa kể do năm ngoái rớt giá, nên bà con không chú tâm chăm sóc vườn sau thu hoạch".
Vải được giá khiến nhiều chủ vườn phấn khởi; song vẫn có không ít hộ mất mùa, vải bán ra vẫn phải chịu giá rẻ như bèo (từ 3.000 - 5.000đ/kg). Chị Làn - chủ vườn tại điểm thu mua phố Kim (thị trấn Chũ) - chỉ tay vào sọt vải, thở dài: "Có một sọt mà từ sáng đến giờ vẫn chưa bán hết. Mọi năm vườn vải nhà tôi thu hoạch được 5 tấn, thì giờ chỉ còn 2 tấn, quả lại bé và xấu nên bán chậm".
Hàng chục chủ vườn khác có tình cảnh như chị Làn cũng đành ngậm ngùi nhìn các "đồng nghiệp" có sọt vải đẹp mắt phóng xe vèo vèo, tấp nập xuất hàng...
Hầu hết vải loại một, loại hai đều được thương lái TQ thu mua, đóng thùng tại chỗ. Vải sau khi tập kết được rửa qua nước sạch, đóng thùng xốp có đá và vận chuyển lên xe, hướng lên cửa khẩu Tân Thanh (Lạng Sơn) và Hà Khẩu (Lào Cai). Số còn lại được các mối buôn miền Nam tranh hàng. Thị trường các tỉnh phía bắc vì vậy chỉ còn các loại vải xấu và lai tạp.
Một chủ buôn từ Hà Nội đánh xe lên tận nơi mua, song chỉ còn cách nhún vai: "Mang tiếng ở gần đất vải nhưng người dân thủ đô làm gì có vải, thiều "xịn" mà ăn. Giá vải đang cao nên chúng tôi có buôn về HN thì cũng lỗ, do chịu mức giá sàn chung thấp từ các tỉnh khác"...
|
* Lục Ngạn có 18.500ha trồng vải, tổng sản lượng năm nay khoảng 50.000 - 55.000 tấn (ít hơn một nửa so với năm ngoái). Ngoài tiêu thụ vải tươi, tại đây còn bán sản phẩm vải khô với hơn 3.000 lò sấy vải, lượng vải khô chiếm 30 - 35% tổng sản lượng, riêng năm nay vải sấy khô giảm sút xuống chỉ còn hơn 10% do mất mùa. |
ĐVT: ngàn đồng/lượng
| Loại | Mua | Bán |
| Vàng SJC 1L | 44.530 | 44.830 |
| Vàng nữ trang 24 K | 43.330 | 44.830 |
| Vàng nữ trang 18 K | 31.780 | 33.780 |
| Vàng nữ trang 14 K | 24.290 | 26.290 |
| Vàng SJC | 44.530 | 44.850 |
| Vàng SJC | 44.540 | 44.830 |
| Vàng SJC | 44.520 | 44.850 |
| Vàng SJC | 44.530 | 44.830 |