Thứ Năm, 5.6.2008 | 21:20 (GMT + 7)
"Sân khấu me""...
Trong các kỳ diễn ra Festival Huế, nếu như Đại Nội là "bệ phóng" cho các sân khấu của chương trình IN, thì sông Hương là "mẹ đỡ" cho các chương trình khai mạc, bế mạc, các lễ hội áo dài, cùng nhiều lễ hội cộng đồng...
Sông Hương - dòng chảy 700 năm lịch sử với bao trầm tích dưới lớp áo dùng dằng là bảo chứng, là trái tim của những kỳ Festival Huế cũng như của thành phố festival vừa được Chính phủ phê duyệt đề án xây dựng.
Hơn một lần, nhà văn Tô Nhuận Vĩ tự hào: "Sân khấu sông Hương là điều làm nên sự khác biệt của Huế, của Festival Huế với các thành phố khác".
Và không phải đợi đến khi Huế tổ chức festival hay trở thành thành phố festival, sông Hương mới trở thành sân khấu, mới được thắp sáng lên. Bao đời nay, dòng Hương đã cưu mang vóc dáng và hình hài xứ Huế và từ trong thẳm sâu lịch sử, sông Hương là lý do để tồn tại một đô thị từ Thuận Hoá đến Phú Xuân và sau này là kinh đô Huế thời Nguyễn. Nhiều người Huế hơi quá một chút khi tự hào ví von sông Hương là con sông đẹp nhất thế giới.
Tuy nhiên sẽ không bao giờ quá khi nói rằng, trên thế giới hiếm có con sông nào lại mang trong dòng chảy của mình biết bao huyền thoại, từ cả tên gọi đến những nhân vật cụ thể trong lịch sử như sông Hương.
Huyền thoại tự kể...
"Nhân vật" chính trong truyện kể về dòng Hương lần này là một chiếc thuyền cung đình bằng gỗ vừa được Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế phục chế dài 27m, rộng 7,2m; phần nổi trên nước cao 4,2m, gồm một tầng và phần mái có lan can. Trước mũi và phía sau trang trí rồng, hổ phù, hệ thống lan can, cửa võng, tất cả đều sơn son thếp vàng... Thuyền cung đình, cùng với 20 chiếc thuyền rồng rực rỡ cờ xí tạo thành đội hình du thuyền, trên cơ sở một hoạ đồ về cảnh thuyền vua du sông của triều Nguyễn.
Chỉ dựng lại một bức hoạ đồ, nhưng đoàn du thuyền cũng đủ gợi nhớ về những năm tháng đầu triều Nguyễn cách đây mấy trăm năm, khi mấy con voi cùng lúc bơi qua sông Hương từ bến Tượng, cùng đoàn ngự đạo xuất cung qua sông trên một chiếc cầu nổi bằng hàng chục chiếc thuyền ghép lại để lên Trai Cung dự lễ tế Giao.
Ngoài đại lễ Nam Giao hàng năm, dòng Hương còn lưu dấu hình ảnh các đoàn ngự đạo của vua tuần hành, hoặc những cuộc tập của thuỷ sư với quy mô lớn, hay đám tang của các vị hoàng đế với những đoàn thuyền ninh lăng nối đuôi nhau lên sơn lăng tưởng như dài bất tận...
 |
| Điện Hòn Chén - một trong những huyền thoại của sông Hương. |
Từ bến thuyền lăng Minh Mạng, sau phần ngũ lân nghênh phúc, du khách bắt đầu hành trình trên các con thuyền, thưởng thức ẩm thực, lắng nghe sông Hương kể về những huyền thoại của mình qua 18 điểm nhấn của hành trình. Cầu Tuần - điểm hợp lưu của hai nguồn tả, hữu tạo nên sông Hương, đồng thời cũng là nơi đóng quân bảo vệ phía tây kinh thành Huế thời Nguyễn, là địa điểm đầu tiên với một giàn trống lớn được sắp đặt tại mố cầu, thúc giục nghênh đón du khách vào huyền thoại.
Đoàn thuyền đi qua đình làng Hải Cát - nơi thờ thần hoàng là Thánh mẫu Thiên Y A Na, không khí tự nhiên chùng xuống khi trên bờ là hương án với các bô lão chắp tay chào đón trong màu sắc của cờ xí và âm thanh của nhạc lễ.
Điện Hòn Chén - tục truyền là nơi Thiên Y A Na giáng trần - lại một phen "dậy sóng" khi đoàn thuyền dừng lại để rước vua lên điện dâng hương trong làn điệu chầu văn rộn rã, các cung nữ lên thuyền dâng thẻ xăm mang lời chúc "cát tường", "an khang", "thịnh vượng"... Không thể không bồi hồi bởi nơi đây từng là quốc điện kể từ khi Đồng Khánh lên ngôi vua, tự xưng mình là một vị thần trong nhiều vị thần khác dưới trướng của Thánh Mẫu. Hiện bài vị, dấu ấn và những sắc phong của Vua Đồng Khánh và thời Nguyễn vẫn còn nguyên vẹn.
Dưới chân đồi Vọng Cảnh lúc hoàng hôn khói sương, những "lễ vật dòng sông" bằng hoa giấy Thanh Tiên trên những chiếc thuyền nan của hoạ sĩ Đinh Khắc Thịnh như một sự tri ân của người đương thời đối với dòng sông đã mang lại cho họ phù sa văn hoá. Qua khỏi đồi một đoạn là cảnh hai chuyến đò dọc và các ngư dân hò đối đáp và hoạt cảnh "Tung chài". Các thuyền chài lần lượt tung lưới chài dưới ánh hoàng hôn, kéo lưới trong tiếng hò rộn rã.
Tại khu vực bãi bồi, các mục đồng tóc chỏm chăn trâu, thổi sáo, thả diều. Ở chân cầu Xước Dũ, một làng chài thấp thoáng, bập bùng trong ánh đèn dầu soi. Hoa đăng được thả từ các con đò, gửi theo bao niềm mơ ước về cuộc sống. Giá mà biết được lúc ấy họ đã mơ gì!
Cũng lâu lắm rồi, Văn Miếu mới được bừng sáng lên với hoạt cảnh các tân tiến sĩ dâng hương, thả 32 chiếc đèn trời ghi tên những tiến sĩ. Có lẽ cùng với điện Hòn Chén, chùa Thiên Mụ là nơi những huyền thoại được kể hay nhất, có sinh khí nhất với khu bờ kè chiếu các bài thơ chữ Hán của các vua, các chúa viết về chùa; bậc cấp bờ kè thắp hoa đăng "chùa Thiên Mụ" theo hình chữ Hán; rồi hoạt cảnh "bà trời" báo mộng, Chúa Nguyễn Hoàng và tuỳ tùng chọn cuộc đất để xây chùa; khoảng 40 nhà sư thắp sáng các hoa đăng làm rực lên 3 chữ "Chùa Thiên Mụ" trong âm thanh trầm đục của tiếng mõ. Hình như ở đây, từ du khách đến quan chức, ai cũng thả cho mình một chiếc đèn hoa đăng chứa chất nguyện cầu...
Xuôi về đình Kim Long, đoàn thuyền được các bô lão và thiếu nhi chào đón bằng sắc màu của cờ xí và nghệ thuật sắp đặt "Cửu long" với hai chữ Hán "Kim Long" - ghi dấu về một thời là thủ phủ của các chúa Nguyễn, cũng như hồi nhớ về một chặng đường dài 450 năm đầy bi hùng, kể từ khi Chúa Nguyễn Hoàng làm cuộc Nam tiến mở mang bờ cõi (1558 - 2008).
Điểm kết của "Huyền thoại sông Hương" là Nghinh Lương Đình. Tại đây có một sân khấu 3 tầng (thượng, trung, hạ) với bốn cụm rồng, hai cụm mây làm màn hình chiếu các slide hình ảnh phông nền phụ hoạ. Tại đây, "Huyền thoại sông Hương" được các tiên nữ "kể mới" theo lối dẫn truyện gồm: Múa "Cội nguồn dòng sông" với hình ảnh các tiên nữ dập dìu trong hương thạch xương bồ; hoạt cảnh Chúa Nguyễn Hoàng vào Nam với hào khí đi mở đất; hoạt cảnh "Nước non ngàn dặm" kể về cuộc chia tay của Huyền Trân Công chúa vào phương nam lấy chồng đổi đất: "Tứ đại cảnh" với ca từ của Vua Tự Đức ngậm ngùi về nhân thế; tiếng trúc, tiếng tơ mềm mại chất chứa bao xúc cảm ru vỗ, an ủi kiếp nhân sinh của bài bản "Long ngâm": Tiếp theo là "Trình tường tập khánh" rộn ràng mà cô lắng trong lòng nhân thế; bài thơ "Hương giang hiểu phiếm" của Vua Thiệu Trị ngời trên bia đá, bất chấp bụi thời gian; "Người đẹp Kim Long" làm xao xuyến bao đấng nam tử; "Vũ khúc Vũ phiến" thướt tha theo huyền thoại; những "nhân vật" của lịch sử hiện về qua các y phục cung đình. Và cuối cùng, màn "Lục cúng hoa đăng" nghiêm cẩn, thanh thoát, như một lời tạm chia tay đầy lưu luyến...
Để sông Hương mãi là "sân khấu mẹ""...
Lễ hội lần đầu tiên được tổ chức, lại chạy dài hơn 3km trên sông từ ngã ba Tuần về đến bến Nghinh Lương Đình, lại trong điều kiện đêm tối nên không thể nào tránh khỏi "sạn" cũng như thiếu sót trong khâu tổ chức. Tuy nhiên vượt lên trên những lời khen chê thông thường, điều mà tôi nhận được nhiều nhất từ du khách trong hành trình khám phá "Huyền thoại sông Hương" là một câu hỏi nhức nhối rằng: "Tại sao con sông đẹp và mang trên mình biết bao huyền thoại, trầm tích văn hoá như thế này, nghe đâu đã một lần bị chính quyền địa phương từ chối lập hồ sơ trình UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới, trong khi đó là chiếc "áo giáp" tốt nhất để phòng thủ và bảo vệ khỏi sự xâm hại của con người như đã và đang xảy ra?".
Còn nhớ trong cuộc họp báo trước ngày khai mạc Festival Huế 2008 mới đây, ông Nguyễn Duy Hiền - Giám đốc Trung tâm Festival Huế - nói rằng: "Việc chúng tôi tổ chức lễ hội "Huyền thoại sông Hương" coi như là một lần nữa thừa nhận những giá trị và vai trò xuyên suốt của sông Hương đối với Huế. Đây là một bước đệm để lập hồ sơ trình công nhận sông Hương là di sản văn hoá thế giới trong tương lai...". Đó là mong mỏi của toàn thể người dân Huế và cả nước.
Huế đang đứng trước một vận hội mới khi Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt xây dựng Huế thành thành phố festival. Sông Hương cũng đứng trước sự chọn lựa khi ông Ngô Hoà - Phó Chủ tịch UBND tỉnh TT-Huế - nói rằng: "Một trong những tiêu chuẩn mà thành phố festival cần phải có là không gian văn hoá để tổ chức các lễ hội". Vậy nên cứ tin, sông Hương mãi là một "sân khấu mẹ" và những huyền thoại không bao giờ kể hết...