"Thương voi... sợ đến một ngày..."
Chủ Nhật, 6.5.2007 | 07:51 (GMT + 7)
Khi tôi gợi chuyện rằng "con voi đang bỏ đất này mà đi, buôn làng đang ngày một thưa dần tiếng rậm rịch của chân voi, thưa dần bóng voi trên bến nước mỗi chiều về..." thì ông bỗng nghẹn ngào, mắt ngấn lệ. Ông bảo: "Mình thương con voi quá. Mình sợ đến một ngày đất này chẳng còn voi". Rồi ông than lên: "Bản Đôn mà không còn voi thì có còn là Bản Đôn nữa không hỡi Giàng!".
Chuyện của Ma Kông
Năm nay Ma Kông đã 96 tuổi, yếu đi rất nhiều so với mấy năm trước. Ông bảo: "Cái sức mình còn được, nhưng cái đầu gối mình nó tệ lắm. Cái đầu gối nó tệ nhiều chắc vì ngày xưa mình trèo đèo lội suối nhiều quá và gặp nhiều đàn bà quá" (riêng vợ chính thức ông có 4 người). Nên bây giờ chủ yếu ông ngồi nhà.
Lâu lâu đến Vườn quốc gia Yôk Đôn một vài giờ kể chuyện săn voi cho khách du lịch nghe mà phải có người chở xe máy hoặc ôtô đến. Ngồi nhà nhiều ông bảo: "Nhớ ngày xưa lắm... khi rừng còn khắp mọi nơi, ra khỏi nhà đã thấy rừng, ra khỏi nhà dăm cái quăng dao đã gặp con chồn, con hoẵng, ra khỏi nhà vài ba chục cái quăng dao đã gặp con voi, con bò tót".
Ông bảo thuở ông mới 12, 13 tuổi theo ông ngoại là Vua săn voi Y Thu (Khun Su Nốp) đi vào rừng Yôk Đôn săn voi thường gặp những đàn voi đông tới bốn, năm chục con. Chúng vừa di chuyển vừa bẻ lá, bẻ cành để ăn nghe ào ào như có động rừng. Những người đi săn voi thường chọn những con voi con dáng đẹp, khoẻ mạnh mới bắt về thuần dưỡng, chứ không phải như sau này, bắt được con nào cũng quý, kể cả voi què. Vì thế ở vùng Bản Đôn này hầu như nhà nào cũng có voi.
Voi buộc nơi gốc cây Kơ nia, nơi gốc Me, gốc Xoài từ đầu buôn tới cuối bản. Voi mỗi trưa, mỗi chiều tụ đầy trên bến nước bên sông Sê Rê Pôk giong vòi hút nước sau đó phun mưa đùa giỡn ồn ào náo nhiệt cả một vùng. Ông bảo voi nhà "nhiều đến mức tính không hết, không nhớ hết tên". Cũng vì vậy vùng đất này đã hình thành nên một nền văn hoá độc nhất vô nhị ở xứ ta, xin tạm gọi là "văn hoá voi" với biết bao lễ cúng liên quan đến con voi, như cúng trước khi đi săn voi, cúng voi trước khi thuần dưỡng, cúng khi đưa voi về buôn, cúng sức khoẻ cho voi, làm lễ cưới cho voi, cúng thần Ngắc Ngoal - vị thần bảo vệ cho loài voi, cúng khi cắt ngà voi, tổ chức hội đua voi...
 |
|
Voi con đang được thuần dưỡng ở Bản Đôn. |
Ma Kông kể: "Nhờ có con voi mà buôn làng lúc nào cũng vui, mùa nào cũng có lễ, có hội. Đàn ông lúc nào cũng bừng bừng mùi men rượu cần. Đàn bà lúc nào má cũng đỏ, mắt lúc nào cũng lúng liếng...".
Bây giờ cả vùng Bản Đôn chỉ còn trên hai chục con voi, hầu hết đã già, mà con nào cũng gầy, da nhăn, xám mốc, ngà bị cắt cụt, không như voi ngày xưa, con nào cũng béo tròn, da đen bóng, con đực nào cũng có ngà dài... Tôi hỏi Ma Kông: "Xem ảnh thấy đàn voi Bảo Đại ngày xưa ở Lắc hùng dũng oai phong là vậy, sao voi bây giờ lại xuống mã thế Ma Kông?".
Ông ngồi bên cửa sổ nhà dài đưa đôi mắt chậm chạp nhìn ra xa, rồi bảo: "Nó biết ăn cái gì cho no cái bụng, cho nó khoẻ cái người được, khi rừng trơ trụi hết cả rồi. Voi rừng cũng sắp hết, Nhà nước không cho bắt nữa, lấy đâu ra voi trẻ. Tất cả rồi sẽ già. Như ta hết thời trẻ, giờ cũng đã già. Rồi sẽ chết. Ta sẽ về với bến nước của ông bà. Còn con voi nó sẽ về với đại ngàn xưa của tổ tiên nó. Nhưng ta mong sẽ được chết trước khi con voi cuối cùng ở đây bị chết...". Giọng ông nghẹn lại.
Giữ "thương hiệu" và "biểu tượng" cho Đắc LắcKhông biết từ bao giờ hạt càphê và con voi đã trở thành biểu tượng của Đắc Lắc. Cà phê thì chắc chắn sẽ còn mãi với đất này, nhưng còn con voi thì đang đứng trước nguy cơ vị tuyệt diệt.
Theo các nhà nghiên cứu thì cách đây khoảng 80 năm, Tây Nguyên (mà Đắc Lắc là trung tâm) là nơi hội tụ của loài voi Châu Á, số lượng cá thể còn tới hàng ngàn con. Nhưng đến năm 2000 theo một thống kê của nhóm nghiên cứu về voi Châu Á (thuộc Tổ chức Bảo vệ động vật hoang dã Thế giới) thì cả Việt Nam chỉ còn khoảng 140 con, trong khi đó thì vùng Nam Ấn vẫn còn khoảng 12.000 con, Myanmar còn khoảng 5.000 con, Sri Lanka còn khoảng 4.000 con, Indonesia còn khoảng 3.000 con, Malaysia còn khoảng 800 con... Như vậy có thể nói Việt Nam là nước có số lượng các cá thể voi suy giảm nhanh nhất. Số cá thể còn lại rất ít ỏi.
Và càng ít ỏi bao nhiêu thì xác suất tuyệt chủng sẽ càng cao. Theo tính toán của các nhà nghiên cứu thì với một quần thể voi khoảng 3.000 con thì xác suất tuyệt chủng trong vòng 100 năm là 0,4%, nhưng với một quần thể voi chỉ có 300 con thì xác suất tuyệt chủng trong 100 năm sẽ là 20%. Với đàn voi nhà hiện tại (khoảng 60 con) như vậy không đầy 30 năm nữa Đắc Lắc sẽ không còn con voi nhà nào. Và như vậy Đắc Lắc sẽ mất "biểu tượng", mất "thương hiệu", mất đi một sản phẩm du lịch độc đáo và đau xót hơn là sẽ mất dần cả một di sản văn hoá gắn liền với con voi.
Phải chăng vì ý thức được "tính nghiêm trọng" của vấn đề nếu voi nhà bị tuyệt diệt... nên ngày 20.4.2007 tỉnh Đắc Lắc đã tổ chức hội thảo xây dựng "Đề án bảo tồn và phát triển voi nhà". GS-TSKH Lê Huy Bá chủ nhiệm đề án cho biết năm 1985 Đắc Lắc còn 502 con, năm 1997 còn 115 con, năm 2000 còn 84 con, năm 2006 còn 60 con, với đà suy giảm này, nếu không có giải pháp ngăn chặn, chỉ khoảng vài ba chục năm nữa voi nhà Đắc Lắc sẽ chỉ còn trong hoài niệm. Vì vậy việc bảo tồn và phát triển voi nhà phải được xem là công việc cấp thiết, không thể chậm trễ. Càng chậm trễ việc bảo tồn và phát triển sẽ càng khó khăn.
Voi nhà suy giảmVì sao voi nhà ở Đắc Lắc suy giảm nhanh? Nhóm các nhà khoa học xây dựng đề án và các nhà quản lý lãnh đạo ở các địa phương có voi đã nêu ra rất nhiều nguyên nhân (trong đó có cả nguyên nhân nài voi mải uống rượu 3 ngày liền, quên cả việc thả voi đi ăn, khiến voi bị chết), nhưng chung quy có mấy nguyên nhân chính: Sinh cảnh, môi trường sống bị thu hẹp, voi thiếu nguồn thức ăn, thiếu dinh dưỡng, thiếu cả "không gian thầm kín" để quan hệ với bạn tình trong mùa động dục, nên đàn voi nhà hiện có thường gầy yếu, giảm tuổi thọ nhanh (12 con bị chết kể từ năm 2004 đến nay), khả năng sinh sản rất hiếm hoi; do nạn săn bắn trộm (cả voi rừng và voi nhà) để lấy ngà làm đồ trang sức và các bộ phận khác của con voi như da, xương... để làm thuốc; do tác dụng của con voi trong đời sống hiện tại của mỗi gia đình không còn nhiều như trước đây, voi chỉ còn tham gia một vài công việc như đưa đón khách du lịch (nhưng không thường xuyên và không phải gia đình nào có voi cũng được tham gia hoạt động này) và tham gia diễu hành, biểu diễn trong một số lễ hội, thời gian còn lại không biết làm gì, trong khi đó thì việc nuôi voi rất tốn kém (khoảng 50.000 - 70.000 đồng/ngày), các gia đình không đủ điều kiện để nuôi voi no đủ, đành phải bán lấy tiền mua sắm các phương tiện sản xuất phục vụ cho đời sống hàng ngày (từ năm 2004 đến nay đã có 8 con bị bán)... Đấy là những nguyên nhân khiến đàn voi nhà ở Đắc Lắc ở vào "thế ba đào", suy giảm nhanh.
 |
|
Vua săn voi Ma Công (trái) kể chuyện săn voi. |
Có một "chợ tình" của voi?Vậy giải pháp nào để chặn đứng tốc độ suy giảm nhanh của đàn voi?
GS-TSKH Lê Huy Bá cho rằng cần phải quy hoạch được một khu bảo tồn voi ở Đắc Lắc có diện tích tới hàng trăm ngàn hécta rừng, có thể là Vườn quốc gia Yôk Đôn, hoặc Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Ka. Hàng năm cứ vào mùa voi động dục thì đưa voi ở các nơi trong tỉnh về vào thả vào khu rừng bảo tồn để tạo điều kiện cho voi gặp gỡ bạn tình nhằm nâng cao khả năng sinh sản (và như vậy theo trí tưởng tượng của chúng tôi thì khu rừng bảo tồn voi ở một góc độ nào đó gần giống như một "chợ tình" của voi).
Bên cạnh đó tỉnh cần cho thành lập Trung tâm Bảo tồn voi và Hội Những người nuôi voi để tạo điều kiện phổ biến, trao đổi kinh nghiệm nâng cao nhận thức, hiểu biết về chăm sóc, nuôi dưỡng voi; vận động các chủ voi mua bảo hiểm cho voi...
Có ý kiến cho rằng: Voi nhà hiện nay là "biểu tượng" của tỉnh Đắc Lắc là tài sản quý của tỉnh vì vậy tỉnh cần có cơ chế chính sách để cùng với dân chăm sóc tốt số voi nhà hiện có, ví dụ một hộ có voi nên cấp cho họ 2ha đất để trồng các loại thức ăn nuôi voi, có như vậy con voi mới không bị bỏ đói.
Cũng có ý kiến cho rằng trong khi khả năng tự sinh sản của con voi rất hiếm hoi, nên chăng cần nghiên cứu phương pháp thụ tinh nhân tạo cho voi để bổ sung voi con hàng năm cho đội ngũ voi nhà.
Có ý kiến đề nghị nên mua lại tất cả các con voi hiện có trong dân đưa về một khu bảo tồn để thuận lợi cho việc quản lý chăm sóc và giao phối của voi khi vào mùa động dục. Lại cũng có ý kiến "mạnh dạn" đề xuất: nên vận dụng các biện pháp "lách luật", hàng năm cho đồng bào săn bắt thêm voi rừng để bổ sung vào đội ngũ voi nhà. Nhưng ý kiến này đã bị nhiều người phản ứng...
Nhìn chung các ý kiến đều thể hiện tâm huyết với việc bảo tồn và phát triển đàn voi nhà của Đắc Lắc. Các giải pháp đề xuất đều có những ưu điểm và khuyết điểm, có những khó khăn và thuận lợi nếu triển khai thực hiện. Nhưng đâu là giải pháp khả thi nhất, có khả năng đưa lại hiệu quả cao nhất thì vẫn chưa thấy. Và vì vậy theo chúng tôi: Hội thảo đã vạch ra nhiều "lối đi", nhưng đâu là "đường cái quan" thì vẫn chưa rõ.
Theo suy nghĩ của chúng tôi: Xây dựng một trung tâm bảo tồn voi nhà của tỉnh gắn với Vườn quốc gia Yôk Đôn - nơi có diện tích rừng đặc dụng lớn nhất Đắc Lắc hiện nay (115.000 ha) - theo đề xuất của GS-TSKH Lê Huy Bá là giải pháp tốt nhất. Ở đó sẽ tập hợp các chuyên gia về voi, các hộ dân nuôi voi giàu kinh nghiệm, voi nhà sẽ được bảo vệ, chăm sóc chu đáo theo các quy trình kỹ thuật bảo đảm đầy đủ chất dinh dưỡng, voi sẽ có điều kiện "giao lưu thầm kín", từ đó sẽ hình thành nên "đội voi sản xuất" bao gồm những con voi đực, voi cái đang độ tuổi sung sức khoẻ mạnh để có thể sản sinh ra một "đội ngũ" voi con bổ sung cho "đội ngũ" voi nhà đang suy kiệt hiện nay.