Phóng sự Email    In

"Trạm 9 cô" ở Trường Sơn

Thứ Hai, 11.5.2009 | 08:05 (GMT + 7)

(LĐ) - Ông Lê Văn Đường, nguyên Huyện đội trưởng Huyện đội Sơn Tây (Quảng Ngãi) thời chiến tranh, ngoắc tay về phía bên kia sông Rin, nói: "Con đường Trường Sơn chạy ngang qua đó. Trạm 9 cô cũng ở chỗ đó".

Theo cánh tay ông chỉ, một nhánh của con đường huyền thoại năm xưa cùng "Trạm 9 cô" giờ chỉ còn một vệt lờ mờ. Thời gian của 34 năm sau chiến tranh đủ để xóa đi nhiều thứ, song cái tên "Trạm 9 cô" cùng những con người gắn cả tuổi thanh xuân đời mình với binh trạm ấy thì mãi mãi vẫn tươi nguyên trong ký ức của những người lính Trường Sơn thuở nào.

Gặp những người còn lại

"Trạm 9 cô"  hiện còn sống 20 người, nhưng chỉ 3 chị may mắn trở thành công dân TP. Quảng Ngãi. Tôi gõ cửa nhà chị Nguyễn Thị Cẩn, nguyên Trạm phó "9 cô", trong một hẻm nhỏ thuộc phường Trần Phú, TP.Quảng Ngãi. Một người đàn bà nhỏ thó, mang cặp kính dày cộp ra mở cửa: "Cháu hỏi ai?". "Phải nhà chị Cẩn đây không ạ?". "Ừ đúng rồi. Mời cháu vô nhà".

Tôi thì xưng "chị", còn chị thì cứ gọi tôi bằng "cháu", dù trời còn sáng rõ. Chị Cẩn gỡ cặp kính ra, bật côngtắc đèn trong nhà lên, nhìn kỹ mặt tôi, rồi than: "Khổ! Mắt mũi chị kèm nhèm hung rồi em. Thấy em mặc áo trắng, chị tưởng thằng cu nào!".

Tôi nhờ chị Cẩn đưa sang nhà chị Lê Thị Bích Ngà, nguyên Trạm trưởng "9 cô". Chị Ngà ra ngõ đón khách, chân đi xẹo xọ, miệng rên khe khẽ: "Dạo này cứ trở trời là cái chân nó hành tao Cẩn ơi". Chị Cẩn đáp: "Ừ, tao thì trời hành con mắt". Họ "mày-tao" như cái thuở 40 năm trước ở Trường Sơn, dù cả hai bây giờ cũng sắp bước vào ngưỡng "cổ lai hy".

Riêng chị Nguyễn Thị Diệp-đứa em út của "Trạm 9 cô" thì không rên vì đau nhức vết thương như hai bà chị mà rên chuyện khác: "Chị đi xin mấy đồng bạc để gặp mặt chị em "9 cô" nhân ngày giải phóng sắp tới nhưng đến chỗ nào, họ cũng lắc đầu, vừa tủi vừa nhục em ơi". Nói rồi chị thút thít khóc. Tôi đành phải đánh trống lảng, lái sang chuyện "Trạm 9 cô" của các chị.

Cả ba bà chị gạt ngay tiếng rên vì đau nhức, vì tủi nhục sang một bên, từng người một  thắp lên ngọn lửa Trường Sơn thuở nào. Cả một ký ức gian lao và hào hùng bỗng ùa về trong các chị như thác lũ.

Trạm trưởng Ngà (trái) và trạm phó Cẩn.
Chị Ngà nhớ lại: "Năm 1967, ta chuẩn bị chiến dịch Mậu Thân nên công việc đưa quân, tải đạn rất khẩn trương. Đường Trường Sơn buộc phải hình thành nhiều nhánh đường xương cá, rẽ xuống các tỉnh. Một nhánh của Trường Sơn Đông đã qua đây để xuống đồng bằng và vào phía bắc Bình Định. Chỗ Sơn Tây này như cái cổ chai, ai muốn về Nam hay ra Bắc gì thì cũng phải qua đây. Thế là hình thành Trạm giao bưu số 10 này, thuộc Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 420, Quân khu 5.

Lúc đầu chỉ có 7 chị em, sau thấy công việc quá nhiều, trên bổ sung hai chị nữa, tất cả là 9. Mãi đến ngày giải phóng cũng thế, hễ trong binh trạm có ai bị thương hay ra Bắc chữa bệnh thì trên lại điều về cho đủ 9 người. "Sao lại 9 cô mà không 10 hay 12? Có "duy tâm" gì trong việc này không?".

Tôi tò mò gợi chuyện. Chị Cẩn chen ngang: "Cũng không biết nữa. Chỉ biết đây là binh trạm duy nhất ở khu vực Trung Bộ mà cả chỉ huy lẫn lính đều là nữ".

Để nhớ một thời đạn bom


"Chào mừng" ngày thành lập binh trạm này (1.1967), B52 "tặng" các chị một trận bom nhớ đời. Chị Diệp bị vùi trong đống cây đổ nát, ai cũng tưởng chị hy sinh. Cả binh trạm vác cuốc và chiếu đi tìm để chôn chị thì nghe tiếng rên khẽ. Cô thiếu nữ 18 tuổi, mặt không còn giọt máu vì mới chân ướt chân ráo từ đồng bằng lên đã gặp trận bom.

Những năm tiếp theo, cứ vài ba bữa, binh trạm lại "đón" một trận. Sơn Tây thời chiến tranh gọi là "khu Bảy", hầu như các cơ quan đầu não của khu Năm và của tỉnh Quảng Ngãi đều có thời gian đóng tại vùng này. Kẻ thù đã đánh hơi và biết điều đó nên nơi đây trở thành túi bom. Mắt chị Cẩn giờ lèm nhèm, chân chị Ngà giờ xẹo xọ cũng là kết quả của những lần bom Mỹ "ghé thăm" trạm các chị.

"Nhưng ngại nhất không phải là đội bom mà là đưa đón khách binh trạm". Chị Diệp kể, có lần trạm đón chỉ ba thương binh, trên đường ra Bắc chữa trị. Hôm đó trạm còn mỗi một khúc củ mì (sắn) nhưng các chị phải nấu ... ba kiểu khác nhau vì anh này thì thích luộc, anh kia thì thích lùi, anh nữa lại thích ghế (độn) với cơm! "Mà thương binh thích gì thì mình cũng phải chiều họ, trừ họ thích ... mình!" - chị Diệp bông đùa.

Chị Ngà nhớ lại: "Có hôm đón một ngàn quân. Toàn lính Bắc mới toe, vào bổ sung cho Sư 3. Các anh hầu hết vừa rời ghế nhà trường, mới đặt chân vào Trường Sơn nên nấu nướng rất "vô tư". "Ban ngày sợ khói ban đêm sợ lửa" là thế. Đám môranh (loại máy bay trinh thám của Mỹ) chỉ cần nhìn thấy một đụn khói mỏng mà phả lên nóc rừng vào ban ngày hoặc một ánh lửa lập lòe vào ban đêm là y rằng cả binh trạm chuẩn bị đón một trận bom thừa chết thiếu sống". Nhiều đêm, các chị phải trắng mắt thức để nhắc nhở chuyện khói chuyện lửa.

Rồi chuyện đón các "hạt giống đỏ", toàn đám trẻ con theo đường dây 559 để ra Bắc cũng là chuyện "chua xương" với các chị. Bình quân mỗi ngày các chị phải đi và về từ binh trạm này sang binh trạm khác để đưa-đón khách hết 40 cây số. Trong 8 năm gắn với "Trạm 9 cô" này, quãng đường mà các chị đã đi, chắc là đủ để làm một vòng quanh trái đất này!

Một thời hòa bình


Trừ chị Ngà là "tóm" được một anh bộ đội từ trước ngày giải phóng nên tình duyên có vẻ hanh thông, tất cả những người còn lại, hầu như chị nào cũng gặp trắc trở. Giải phóng ra, các chị đã ngấp nghé 30 hoặc trên 30 cả rồi. Tám năm đội đạn, tuổi ba mươi đã gõ cửa tự bao giờ, các chị nào có hay! "Nơi nào khó khăn, chúng tôi phải đi trước, nơi nào sung sướng, chúng tôi lại là những người về sau cùng".

Chị Ngà, chị Cẩn, chị Diệp lại rưng rưng. Như chị Ngà đây, những tưởng lấy được tấm chồng từ thuở thanh niên đã là viên mãn, chẳng ngờ chị đẻ một lèo 6 người con. Bệnh cũ tái phát, chồng chị giờ phải đi xe lăn. Chị đã đau, lại phải nuôi người ốm.

Trung sĩ Diệp hồi ở "Trạm 9 cô" (ảnh do nhân vật cung cấp)... và hôm nay.

Chị Cẩn thì năm 39 tuổi mới đẻ đứa con đầu lòng. Đẻ xong thì nuôi ông chồng già khụ bị tai biến cả chục năm trời. Con trai giờ đã tốt nghiệp đại học bách khoa, mang bằng về khoe với mẹ nhưng mắt mũi mẹ thế, chỉ "sờ" tấm bằng đại học của con chứ chẳng thấy gì. Chả bù với chị Diệp, 49 tuổi mới lấy tấm chồng. Không sinh nở nữa nhưng chị phải dựng vợ, gả chồng rồi nuôi cháu của con chồng, những 4 đứa, lại phải cơm bưng nước rót "hầu" cụ bà nhà chồng nay đã 89 tuổi! "Nhưng chị còn may hơn nhiều chị khác em à- chị Diệp phân bua.

Như chị Dung ở Mộ Đức, đau tim mấy năm, gõ cửa khắp nơi để xin tiền chạy chữa nhưng không có tiền, đành phải chết trong đói nghèo rơm rạ ở quê; như chị Nhạn cũng quê Mộ Đức, quá khó nghèo, giờ phải lên sống với đồng bào Ba Na ở Vân Canh tỉnh Bình Định".

Còn rất nhiều, rất nhiều hoàn cảnh thương tâm của các chị ở "Trạm 9 cô". Các chị gần như bị chôn vùi trong quên lãng, quên đến mức mà chị Ngà đã tha thiết xin tỉnh tạo cho các chị một chuyến tham quan TPHCM rồi về chết cũng thỏa lòng nhưng đã hai năm nay, lời đề nghị ấy đã tan như khói bom! Bao nhiêu người từng đi qua con đường ấy và binh trạm ấy để đến Sài Gòn, còn các chị ở "Trạm 9 cô", 34 năm hòa bình rồi, Sài Gòn vẫn là một khái niệm xa xôi.

"Trạm 9 cô" xứng đáng là binh trạm anh hùng. Quên những thành viên của binh trạm này là đồng nghĩa với lãng quên xương máu đấy!

Quay về trang chuyên đề Email    In