Trầm tích hoa Đà Lạt
Thứ Ba, 9.2.2010 | 07:53 (GMT + 7)
Theo đánh giá của nhiều người thì đây là một festival hoa khá thành công của Đà Lạt - thành phố hoa. Những ngày sau Festival hoa Đà Lạt 2010, không còn không khí tấp nập và khá nhộn nhịp của ngày hội, nhưng vẫn còn đó những dư âm về hoa. Và, từ những dư âm đó, tôi nghĩ đến một lớp "dư âm" khác, lớp "dư âm" như thể là trầm tích - trầm tích hoa Đà Lạt.
Trong những ngày trước, trong và cả sau lễ hội về hoa Đà Lạt (Lâm Đồng), người ta không mấy khi nhắc đến lớp “trầm tích” này, mà chỉ nói nhiều đến những hoạt động bề nổi của lễ hội – festival, của hoa, của những thành tích về hoa... Những tên người làm nên trầm tích hoa Đà Lạt cứ chìm khuất ở đâu đó sau những sặc sỡ của sắc hoa, sau những ánh mắt rỡ ràng của người thưởng ngoạn hoa trước những bông hoa xinh đẹp trong Festival hoa Đà Lạt 2010.
Còn tôi, ít nhất là tôi, từ trong sâu thẳm của lòng mình, tôi vẫn thầm nhắc nhớ đến những con người không thể quên được ấy. Đó là những cái tên Lương Văn Sáu, Bùi Văn Lời (Mười Lời) đã mất; rồi, đó còn là những cái tên tuy mới toanh, nhưng dự báo sẽ là một lớp trầm tích khác trong những năm về sau như Lee Jeong Soo, Nguyễn Công Hoá...
Hai con người đã về với thiên thu
Hơn mười năm trước, vô tình nghe bản tin trên đài phát thanh địa phương (Đài Đà Lạt) nói về chuyện cây phượng tím duy nhất của thành phố hoa và kỹ sư Lương Văn Sáu, tôi hộc tốc chạy tìm ông đang ngụ trong một căn nhà nhỏ trên đường Bùi Thị Xuân, Đà Lạt. Rất bất ngờ cho tôi là vị kỹ sư già Lương Văn Sáu (sinh năm 1942) từng tốt nghiệp một trường canh nông tận bên Pháp ấy phải dùng bút đàm để nói chuyện bởi một căn bệnh quái ác đã cướp mất sợi dây thanh quản của ông từ lâu.
Câu chuyện bằng bút đàm của ông cho tôi biết: Kỹ sư Lương Văn Sáu sau khi tốt nghiệp Trường Canh nông ở Versailles (Pháp) đã về nước vào năm 1962 và mang theo không biết cơ man nào là hạt giống của hoa và cả rau. Rồi nữa, lúc đã trở lại Đà Lạt, ông Lương Văn Sáu vẫn viết thư nhờ mấy người bạn ở nước ngoài tìm mua và gửi về cho ông những giống cây trồng “lạ”, trong đó có cây phượng tím hiện vẫn đang trổ bông đều đặn trên đường Nguyễn Thị Minh Khai (lối vào chợ Đà Lạt) mỗi độ xuân về.
“Cái giống hoa ấy lạ lắm! Muốn tạo giống, phải có một loài chim mỏ dài và cong làm trung gian thì mới xong!” – ông Sáu bút đàm với tôi như vậy. Và tôi hiểu, đó là lý do tại sao đến lúc ấy (trước 1995), Việt Nam này chỉ có một cây phượng tím duy nhất ở xứ hoa Đà Lạt.
Ngặt nỗi, Việt Nam không có giống chim mỏ dài và cong như ông Sáu miêu tả nên về sau, ông phải tự nghiên cứu để chiết cây con từ rễ của cây phượng tím và đã thành công bước đầu. Được vài cây con, ông “ới” những người bạn cùng thời của ông ở Cần Thơ, ở Huế... lên Đà Lạt mang về và trồng “cho ở Việt Nam mình có nhiều cây phượng tím hơn” - như lời ông Sáu bút đàm.
Rồi nữa, không những là chủ nhân của cây phượng tím duy nhất của Việt Nam, mà bấy giờ, ông kỹ sư canh nông già này còn là tác giả của nhiều loài hoa thân một độc đáo và “duy nhất” khác của xứ hoa Đà Lạt này nữa: Đó là cây hoa vông kê độc nhất vô nhị trước cổng khách sạn Palace, cây hoa chuông vàng có một không hai ở chùa Quán Thế Âm trên đường Bà Huyện Thanh Quan...
Ông Sáu - hội viên Hội Hoa hồng nước Pháp, còn là một trong những người sáng lập nên vườn hoa thành phố Đà Lạt ngày nay. Dạo nọ, khi lễ hội hoa Đà Lạt và sau đó là Festival hoa Đà Lạt lần thứ nhất (2004, 2005) được khởi xướng, trước lúc ông mất, tôi không nghe người ta nhắc đến tên ông trên các diễn đàn. Và dĩ nhiên, đến đầu 2010 này, trong Festival hoa Đà Lạt lần thứ ba, tên ông dường như bị quên hẳn.
Người thứ hai mà tôi muốn nhắc đến trong bài viết này là nhà nông Bùi Văn Lời, người vừa mất cách nay vài tháng vì một căn bệnh quái ác. So với ông Lương Văn Sáu thì ông Mười Lời (người ta vẫn gọi ông bằng cái tên thân mật này, mặc dầu ông là con thứ bảy trong gia đình) lúc còn sống có được nhắc đến tên nhiều hơn trên các diễn đàn. Bởi lẽ, ông thực sự cần cho các quan chức khi báo cáo thành tích về hoa Đà Lạt qua các công trạng đã được ghi vào sổ sách như: Là ông nông dân đầu tiên (và duy nhất cho đến lúc này) ghép thành công giống đào Nhật Tân (Hà Nội) với giống đào Đà Lạt để tạo thành những bích đào, hồng đào, liễu đào... rất đặc trưng của xứ hoa anh đào Nam Tây Nguyên.
Rồi nữa, cuộc hôn phối giữa hoa quỳnh Nhật Bản với giống thanh long Bình Thuận do ông Mười Lời kiến tạo để sinh ra một giống hoa “quỳnh Đà Lạt” nở hoa vào ban ngày (hoa quỳnh ta và cả hoa quỳnh tây chỉ nở hoa vào ban đêm) đã khiến cho không ít chuyên gia về hoa ngoại quốc... sững sờ.
Không chỉ thế, hồi Festival hoa Đà Lạt lần thứ hai (2007), ông Mười Lời còn “chơi một quả” khá ngoạn mục khiến không ít người phải thốt lên “kính nể, kính nể” vị nông dân được mệnh danh là “phù thuỷ” của các loại hoa: Bắt hoa đào ngoài đường phố Đà Lạt nở hoa trước hơn một tháng, đúng vào những ngày diễn ra festival.
Vậy nhưng có lần, thành phố này đòi giải toả cả thung lũng hoa đào Mười Lời – mảnh vườn con con làm nơi trồng hoa và “nghiên cứu khoa học” của ông nông dân Mười Lời.
Năm nay, Festival hoa Đà Lạt 2010 không đưa “thung lũng hoa đào Mười Lời” vào chương trình (mặc dầu người kế tục sự nghiệp ở thung lũng này trên đường Lê Hồng Phong là con trai của ông), nhưng vào giờ chót, để lấp vào chỗ trống, Đà Lạt đã “vời” anh Bùi Văn Sang (con trai ông Mười Lời) mang hoa ra trưng bày với điều kiện phải đề tên một đơn vị gì gì đó, chứ không thể để biển hiệu “trống trơn” với cái tên “Thung lũng hoa đào Mười Lời” được. Nghe bảo, có một cuộc tranh cãi nho nhỏ đã xảy ra.
Những trầm tích... tương lai
Trong khuôn viên triển lãm hoa tại vườn hoa Đà Lạt của những ngày festival hoa vừa rồi, tôi để ý có một gian hàng hoa trưng bày các loại hoa lan được trồng trên những phiến đá khá độc đáo và lạ mắt. Và có lẽ vì sản phẩm hoa lan ở gian hàng này quá khác biệt nên không được nhiều người để ý chăng, vì tôi thấy không có nhiều người ghé mắt vào đây so với những gian hàng hoa lan muôn hồng ngàn tía khác? “Không sao! Vì còn quá lạ mà!” – ông chủ gian hàng là người Hàn Quốc nói tiếng Việt khá sõi đã nói với kiểu nói không buồn và cũng không mấy vui như thế.
Hỏi ra mới biết, ông người Hàn Quốc này đã đặt chân đến không ít quốc gia trên thế giới và cuối cùng là dừng chân nơi thành phố hoa Đà Lạt của Việt Nam để xin làm “công dân xứ hoa lan” với sản phẩm lạ mắt và hết sức độc đáo: Phong lan trồng trên đá, trồng trên những thân gỗ lũa.
Thỉnh thoảng, trong những lần lặn lội giữa rừng sâu, tôi vô tình có nhìn thấy những cành phong lan bám vào đá để sống (vì không còn nơi nào để bám), nhưng rồi hình ảnh đó nhanh chóng biến mất khỏi trí nhớ của tôi. Giờ, nhìn cách “chơi” lan của ông nước ngoài này, tôi bỗng giật mình: Rất có thể trong tương lai không xa, sẽ có một dòng sản phẩm hoa lan trên đá của xứ hoa Đà Lạt ra đời và sẽ nhanh chóng làm nên “tên tuổi” cho xứ hoa Đà Lạt! “Sau hơn bốn tháng, những phong lan xinh xắn này mới bám rễ trên đá và tự hút khí trời để sống và cho hoa!” – ông Lee nói.
Một trầm tích tương lai khác: Ông Nguyễn Hữu Hoá ở làng hoa Vạn Thành (Đà Lạt), người đã tự mày mò học hỏi để làm ra sản phẩm hoa hồng ướp khô mà vẫn còn tươi rói. Ở Festival hoa Đà Lạt lần này, một trong những sản phẩm về hoa được nhiều người chú ý đến đó là bức tranh hoa hồng ướp khô gồm 1.000 bông hồng do ông Hoá cùng nhóm hoạ sĩ thực hiện có kích thước 2,4m x 1,75m, “vẽ” cảnh núi đồi, thác nước, nhà thờ Con Gà, nhà Thuỷ Tạ (mẫu kiến trúc đặc trưng của Đà Lạt) trên nền con suối Lát (hồ Xuân Hương, Đà Lạt).
“Một ngàn bông hoa hồng ép khô chính là lời tâm tình của người Đà Lạt muốn gửi đến 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội nhân sự kiện Festival hoa Đà Lạt mở đầu cho chuỗi hoạt động kỷ niệm đại lễ này của quốc gia” – ông Hoá nói.
Nghe nói cứ tưởng dễ, nhưng để làm ra những bông hồng ướp khô mà vẫn tươi roi rói, vẫn đảm bảo độ mềm mại, vẫn giữ nét đẹp tự nhiên vốn có của nó... quả là không dễ. “Tôi đã mất 2 năm trời để học ở bạn bè người nước ngoài, học trên mạng, học ở chính những người nông dân đang sinh sống tại làng hoa Vạn Thành của tôi, tôi mới có thể “định dạng” kỹ thuật này được đấy!” – ông Nguyễn Công Hoá tâm sự.
Tất nhiên rồi! Nhưng điều quan trọng hơn chính là ở chỗ: Cho đến thời điểm này, ông Nguyễn Công Hoá với tư cách là một công dân xứ hoa Đà Lạt là người đầu tiên của Việt Nam làm ra sản phẩm hoa hồng ướp khô!
Tôi nghĩ vậy và thầm mong lớp trầm tích hoa Đà Lạt trong tương lai “Nguyễn Công Hoá” được nhiều người nhắc đến trong những kỳ lễ hội của hoa. Cũng như vậy, một lớp trầm tích trong tương lai khác được tạo nên bởi sản phẩm hoa lan có một không hai của xứ sở hoa lan Đà Lạt – ông người ngoại quốc Lee Jeong Soo đang xin được làm công dân Đà Lạt – sẽ không bị lãng quên.
Và rồi nữa, những lớp trầm tích đã định hình như kỹ sư canh nông già Lương Văn Sáu và ông phù thuỷ của các loài hoa Bùi Văn Lời, những người đã về thiên cổ, sẽ được ghi nhận một cách xứng đáng hơn bởi những đóng góp không nhỏ của họ cho thương hiệu hoa Đà Lạt ngày nay.