Phóng sự Email    In

Vui buồn chuyện học ở Lục Dạ

Thứ Hai, 25.1.2010 | 08:02 (GMT + 7)

(LĐ) - Nhìn cơ sở vật chất của Trường Tiểu học II xã vùng sâu Lục Dạ, huyện miền núi Con Cuông, Nghệ An, chúng tôi thầm nghĩ ngay cả miền xuôi, không phải trường nào cũng được khang trang như vậy.

Như đọc ra ý nghĩ này, cô Hiệu trưởng Nguyễn Thị Kim Anh không nỡ giấu nghèo giấu khó: Đây là điểm trường chính, điều kiện công tác và đi lại còn nhiều thuận lợi. Anh chị em dạy trong các bản lẻ thì khó khăn thiệt thòi nhiều lắm.

Tấm lòng mênh mông đại ngàn

Biết chúng tôi muốn vào thăm một vài điểm trường bản lẻ, Phó Hiệu trưởng Trần Thị Ngân vui vẻ làm hoa tiêu dẫn đường. Mỗi người một “ngựa sắt” ngược nguồn khe Mọi. Mưa mỗi lúc một dày hạt, đường càng lầy lội càng trơn trượt, xe quanh co lúc dọc sườn núi, lúc cheo leo bên mép suối, băng đèo, đến lúc ngựa sắt thành xe lội nước vượt suối, vượt qua những cây cầu ghép ván đã mục ải... Xe trầy ngang trượt dọc, có lúc ý nghĩ bỏ cuộc đó lởn vởn trong đầu...

Khoảng 1 giờ đồng hồ đánh vật, để lại sau lưng chừng 7-8km, chúng tôi cũng đến được bản Xằng. Các thầy, cô ở đây đều ngạc nhiên vì đường sá khó khăn, trời đang mưa và lạnh mà vẫn có khách từ xa tới thăm.

Bản Xằng 100% dân tộc Thái, đời sống bà con còn nhiều khó khăn, nguồn thu chủ yếu từ nông nghiệp lúa nước và một ít nương rẫy; trình độ dân trí còn hạn chế, bà con chưa quan tâm đúng mức, chưa lấy việc học hành làm đích để cổ vũ động viên con em phấn đấu. Trường bản Xằng có 5 lớp gồm tất cả các khối mà chỉ vẻn vẹn 48 học sinh, với 1 cán bộ quản lý và 6 giáo viên đứng lớp. Gia đình các giáo viên đều ở trung tâm xã cách trường 8 - 10km.

Trời mưa đường gập ghềnh lầy lội, hôm nay các thầy, cô vẫn còn đi lại được bằng xe máy, suốt hai tháng mùa mưa các thầy, cô phải lội bộ, phải bám theo sườn núi để bám lớp, bám trường, gặp lũ lớn thì bị kẹt lại hàng tuần là chuyện thường.

Rời bản Xằng, chúng tôi tiếp tục vào bản Mọi, đường mỗi lúc một gian nan. Là phóng viên thường xuyên “chinh chiến” trên mọi địa hình, chúng tôi bái phục Hiệu phó Trần Thị Ngân về kỹ năng bám đổ đèo. Hơn một giờ sau, bản Mọi thấp thoáng hiện ra trong thung lũng đầy sương và đầy tiếng ầm ào của thác đầu nguồn khe Mọi.

Một lớp học tại bản Mọi.

Bản Mọi là nơi cư trú của gần 150 hộ dân Đan Lai, ngoài một số ruộng nước ven khe suối rất ít ỏi không có thêm một khoản thu nào đáng kể. Bà con đành dựa vào núi rừng, miệng ăn núi lở, rừng có hào phóng đến mấy cũng không thể cưu mang họ đời này qua đời khác, vì thế mà cái nghèo thường trực đeo đẳng bao thế hệ người dân Đan Lai.

Ở đây, các bậc cha mẹ nhiều người không biết chữ, không biết chữ nên cha mẹ cũng không ý thức được tầm quan trọng của việc học hành để đầu tư cho con cái, hầu hết chỉ muốn con em không “bị” đi học để tham gia nương rẫy, tham gia điệp khúc hái, lượm, chọc, trỉa kiếm cái mặc cái ăn, do vậy nhiệm vụ phổ cập giáo dục ở nơi thâm sơn cùng cốc vô cùng khó khăn.

Trường bản Mọi có 6 lớp với 92 học sinh do 8 cô giáo đảm trách. Cách nhà chừng 20 cây số, nếu thời tiết thuận lợi, hàng tuần các cô về nhà thăm chồng con một lần. Một vài ngày nghỉ chưa lo xong việc nhà, các cô đã lo sắm sanh lương thực, thực phẩm để kịp ngược lên với trẻ em Đan Lai. Cô giáo Lương Thị Ba bộc bạch: Có những tuần mưa gió liên miên, khe suối dâng cao không về được, hằng đêm mấy chị em ôm nhau mà khóc. Khóc vì thương chồng, nhớ con...

Đời sống KTXH vùng sâu vùng xa cũng nhiều khó khăn, trình độ dân trí hạn chế đó ảnh hưởng lớn việc dạy và học của thầy và trò. Nơi đây nhiều phụ huynh không đủ điều kiện đóng các khoản quỹ cho con em đến lớp, các thầy, các cô tự nguyện bỏ tiền túi để nộp cho trò.

Phó Hiệu trưởng Lê Thị Thoa rất hiểu hoàn cảnh của các em: Có những gia đình đến mùa thu hoạch cũng chẳng có tiền, chỉ có một ít nông sản nên các thầy, cô không nỡ lòng nào... Có những học sinh trước lúc đến lớp chưa được ăn cơm, biết các em đang đói lả, các thầy, cô tranh thủ nhóm bếp nấu cơm để tiếp sức cho các em ươm trồng cái chữ. Hầu hết học sinh ở các điểm trường lẻ bản Xằng, bản Mọi đều thiếu thốn, em thiếu sách, em thiếu vở bài tập, có em áo quần không đủ mặc, có em không có dép để đi... Giáo viên ở trường bản lẻ có nhiều hôm phải vào tận nương rẫy để vận động phụ huynh tiếp tục cho con em theo học và đích thân các thầy, các cô đưa học sinh về lớp.

Công đoàn nhà trường phát động hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” bằng việc làm cụ thể “Mỗi đoàn viên công đoàn đăng ký làm một việc tốt”.

Cô giáo Hiệu trưởng Nguyễn Thị Kim Anh không rập khuôn kiểu tốt "đẹp phô ra, xấu xa đậy lại": “Ban đầu các thầy, cô lúng túng lắm, vì không biết đăng ký việc gì. Nhưng rồi hằng ngày các thầy, cô tiếp xúc với học sinh, hiểu rõ hoàn cảnh từng em, đều nhận thấy các em còn thiệt thòi thiếu thốn đủ bề, các thầy, cô đăng ký giúp đỡ những em có hoàn cảnh khó khăn sách vở, bút mực, nhận phụ đạo những em học lực còn yếu”.

Chương trình 135 “lạc” về đâu?

Thầy Nguyễn Minh Trung - Chủ tịch Công đoàn nhà trường - đưa chúng tôi xem danh sách giáo viên đăng ký làm việc tốt. Tất cả 44 thầy - cô giáo đều đăng ký giúp đỡ học sinh nghèo và học sinh khuyết tật.

Cô Nguyễn Thị Kim Anh đăng ký giúp đỡ em Vi Thị Thơm lớp 5A1 áo quần, sách vở; cô Trần Thị Ngân đăng ký giúp đỡ em Lô Văn Thương bị khuyết tật (lớp 5A1), cô Lương Thị Sơn đăng ký giúp đỡ em Lương Văn Trường (lớp 3A1) và nhận phụ đạo em Lương Văn Đạt...

Thầy Vi Đình Trinh - giáo viên phụ trách điểm trường bản Xằng - tâm sự: “Gần đây, việc giúp đỡ học sinh nghèo trở thành phong trào và có hệ thống, nhưng trên thực tế lâu nay anh chị em giáo viên chúng tôi đã thực hiện, có điều là không “đăng ký” mà thôi”.

Chúng tôi nghĩ, giáo viên ở trường bản Xằng và bản Mọi là vùng đặc biệt khó khăn, đương nhiên các thầy, cô được hưởng chế độ ưu đãi theo quy định của Chính phủ. Nào ngờ sau thoáng buồn, các thầy, cô trả lời: “Dù dân bản ở đây được hưởng Chương trình 135, nhưng từ tháng 1.2009, chúng tôi chỉ được hưởng chế độ như những giáo viên ở các vùng thuận lợi trong huyện, nghĩa là chỉ được hưởng 50% đứng lớp. Trong khi đó, các đồng nghiệp ở Môn Sơn và một số xã khác được hưởng đầy đủ theo quy định”.

Giáo viên vượt suối đến điểm trường lẻ.


Tìm hiểu được biết, xã Lục Dạ hiện không nằm trong danh sách các xã được hưởng chế độ 135, nhưng ba bản của xã là bản Xằng, bản Mọi và bản Tân Hợp vẫn tiếp tục được hưởng chương trình này (theo Quyết định số 01/2008/QĐ của Uỷ ban Dân tộc về việc phê duyệt danh sách thôn đặc biệt khó khăn thuộc xã khu vực II vào diện đầu tư của Chương trình 135 giai đoạn II). Căn cứ theo Nghị định 61/2006/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục công tác ở trường chuyên biệt, ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thì giáo viên công tác ở hai điểm trường lẻ nói trên ngoài lương còn được hưởng chế độ phụ cấp. Cụ thể là phụ cấp ưu đãi với mức 70% lương hiện hưởng (điều 7), phụ cấp thu hút cũng với mức 70% lương hiện hưởng trong vòng 5 năm (điều 8), trợ cấp lần đầu 4 triệu đồng (điều 10).

Ngoài ra, giáo viên công tác tại vùng này còn được hưởng tiền phụ cấp mua và vận chuyển nước ngọt, nước sạch (điều 11), phụ cấp lưu động (điều 12) và trợ cấp tham quan, học tập, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ (điều 14).

Đem vấn đề này trao đổi với thầy Nguyễn Minh Trung - Phó Hiệu trưởng - Chủ tịch Công đoàn, thầy Trung cho biết: “Công đoàn nhà trường đã có văn bản kiến nghị lên cấp trên, nhưng chưa nhận được hồi âm. Qua bài viết này, chúng tôi đề xuất các ban, ngành liên quan của huyện Con Cuông nghiên cứu, xem xét và sớm có câu trả lời để anh chị em giáo viên các điểm trường lẻ ở bản Xằng, bản Mọi thuộc Trường Tiểu học II Lục Dạ đỡ phải thiệt thòi, tạo điều kiện để các cô, các thầy yên tâm làm nhiệm vụ cao cả “Vì tương lai con em chúng ta”.

Quay về trang chuyên đề Email    In