Nhưng tổng kết việc coi trọng nhân tài thành lý luận sắc bén thì có lẽ Thân Nhân Trung là người đầu tiên.

>> Đạo trọng người của Hồ Chí Minh
>> Nhân tài không được trọng dụng là một sự lãng phí lớn
>> Phải phát hiện và bảo vệ hiền tài!
>> Nhân tài nước ta trong thời đại này

1. Không có nhân tài, các Vua Hùng và An Dương Vương chẳng thể dựng nên nước Văn Lang và quốc gia Âu Lạc, hai nhà nước tiên khởi của lịch sử Việt Nam, giàu sức sống mãnh liệt đến lạ kỳ. Trải hơn một ngàn năm thiết lập và quyết duy trì nền đô hộ, các triều đại phong kiến phương Bắc hoàn toàn có dư dả thời gian, có dư dả điều kiện và phương tiện để đồng hóa nhân dân ta, nhưng dù đã huy động đến tận cùng mọi cố gắng, vẫn không thể làm được điều này. Vì sao ư?

Tự nguyện sát cánh với Hùng Vương và An Dương Vương là các bậc Lạc Hầu, Lạc Tướng. Không ai trong số họ có học vị hay bằng cấp, cũng không ai trong số họ để tâm đến hào quang chức vị, nhưng lòng thành và chí lớn đã khai mở trí tuệ cho họ. Trí tuệ vì thiện tâm dựng nước và giữ nước. Trí tuệ vì quốc thống bền vững cho muôn đời con Lạc cháu Hồng. Trí tuệ tỏa sáng sự thanh thản quên mình, vô tư đến mức cả họ và tên gọi của riêng thân cũng không màng tới.

Nào phải ngẫu nhiên mà bao đời nay, lễ giỗ tổ Hùng Vương năm nào cũng được tổ chức trọng thể, nào phải ngẫu nhiên mà đền thờ Hùng Vương, An Dương Vương cùng các Lạc Hầu và Lạc Tướng được tôn lập trên khắp các địa phương của cả nước và còn ở nước ngoài nữa.

Khi vận nước lâm nguy, vua không còn, triều đình cũng chẳng còn, người tài trong thiên hạ nối nhau dựng cờ xướng nghĩa. Dân tin người tài và thề cùng với người tài xả thân cứu nước cứu nhà. Hai Bà Trưng sở dĩ có thể vùng lên làm kinh thiên động địa và giành được thắng lợi trong gần ba năm bởi chính Hai Bà đã quy tụ được 76 vị nữ tướng xuất sắc cùng cả vạn quân quả cảm. Bà Triệu sở dĩ có thể tự tin khuấy nước chọc trời vì nghĩa khí của bà được đông đảo người tài bốn phương ủng hộ. Lý Bí, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng, Dương Thanh và các bậc hào kiệt đều noi gương cổ nhân, khiêm nhượng mời người tài chung tay góp sức và cống hiến trí tuệ cho sự nghiệp giành độc lập.

Khúc Thừa Dụ, Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền đều rất nổi tiếng có tài quy tụ trí dũng của xã hội. Khi xông pha diệt loạn 12 sứ quân và thiết lập nền thống nhất quốc gia, nỗi bận tâm hàng đầu của Đinh Bộ Lĩnh là làm sao nhận được sự hợp tác của các bậc chí lớn tài cao. Các tướng lĩnh như Lê Hoàn, Đinh Điền, Nguyễn Bặc, anh em nhà họ Phạm và cao tăng Ngô Chân Lưu cùng nhiều bậc đa mưu túc trí đã hoan hỷ hiến dâng tất cả sức lực và tuệ lực bởi họ đều rất kính trọng sự thành tâm của Đinh Bộ Lĩnh đối với người tài.

Nếu không nhận được sự ủng hộ của Thái hậu Dương Vân Nga, của Khuông Việt Đại sư và danh tướng Phạm Cự Lạng… Lê Hoàn dù rất tài giỏi vẫn khó có thể lập ra được nhà Tiền Lê và càng khó để lại tiếng thơm phá Tống bình Chiêm cho muôn đời.

Lễ giỗ Vua Hùng tại TPHCM. Ảnh: T.L

Lý Công Uẩn tài kiêm văn võ nhưng để lập ra nhà Lý, hiên ngang định đô tại Thăng Long, ông cũng phải cậy nhờ đến kế sách của danh thần Đào Cam Mộc, danh tăng Vạn Hạnh và nhiều mưu sĩ lỗi lạc. Nếu không biết trọng dụng Lý Thường Kiệt, nhà Lý làm sao có thể mở rộng lãnh thổ về phương Nam, đại thắng quân Tống xâm lăng trong trận Như Nguyệt và dõng dạc tuyên bố với bốn phương thiên hạ rằng "Nam quốc sơn hà Nam Đế cư". Khi thái bình thịnh trị, nhờ biết lắng nghe và làm theo lời khuyên của các bậc đại trí, triều Lý đã mở lối đồng hành và tương tác rất thân thiện cho Tam giáo, để lại dấu ấn sâu sắc trong văn hóa Lý - Trần, văn hóa Thăng Long hay văn hóa Đại Việt.

Nếu thiếu kế sách quyết đoán của Thái sư Trần Thủ Độ và phu nhân là Linh Từ Quốc mẫu Trần Thị Dung, thiếu ý thức trọng dụng các chiến lược gia xuất sắc, nhà Trần làm sao có thể được thiết lập. Nếu không biết chân thành bày tỏ niềm tin cậy lớn lao đối với các danh tướng như Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư, Trần Bình Trọng, Trần Quốc Toản và đặc biệt là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, thậm chí là với những người xuất thân gia nô như Yết Kiêu, Dã Tượng, Nguyễn Địa Lô… nhà Trần không thể lừng lẫy với ba lần đại phá quân xâm lược Mông Nguyên, khiến cho "Đến nay nước sông vẫn chảy hoài, mà nhục quân thù không rửa hết".

Nếu không biết trân trọng trải chiếu hoa mời đón người tài, nhà Trần chẳng thể nào có được các bậc danh Nho đại khoa bảng như Nguyễn Hiền, Lê Văn Hưu, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn, Phạm Sư Mạnh, Chu Văn An… những người có công tái khẳng định và nâng cao vị thế của văn hóa Lý Trần, văn hóa Thăng Long hay văn hóa Đại Việt. Lãnh thổ được mở rộng, hào khí Đông A bừng bừng trỗi dậy, nhiều ngành khoa học được khai sinh và dòng Thiền Tông Trúc Lâm Yên Tử được ra đời… đó là một số di sản lịch sử tiêu biểu do nhà Trần để lại.

Sở dĩ Lê Lợi và nghĩa sĩ Lam Sơn có thể "Đánh một trận sạch không kình ngạc, đánh hai trận tan tác chim muông" khiến cho "Càn khôn bĩ rồi lại thái, nhật nguyệt hối rồi lại minh" vì vũ khí lợi hại nhất chính là trí tuệ của bộ chỉ huy Lam Sơn mà đặc biệt là của Nguyễn Trãi đã được phát huy đến cao độ.

Thời Lê sơ (1428-1527), Đại Việt là một cường quốc ở Đông Nam Á. Kinh tế phát đạt, xã hội ổn định, quân đội tinh nhuệ, văn hóa đạt tới đỉnh cao, bang giao thuận lợi… Để có được những thành tựu quan trọng ấy, tính ra, các Hoàng Đế của nhà Lê có đến hàng chục lần xuống chiếu cầu hiền và cầu nghe lời nói thẳng. Cầu hiền nên được người hiền, cầu lời nói thẳng nên được nghe lời nói thẳng, sai sót được hạn chế và đẩy lùi, lợi ích quốc gia nào phải nhỏ đâu.

Nhờ biết chân thành mời gọi người tài, ba anh em Tây Sơn mới có thể quả cảm thổi bùng lên ngọn lửa quật khởi, thiêu trụi toàn bộ cơ đồ thống trị của tập đoàn họ Nguyễn ở Đàng Trong và họ Trịnh ở Đàng Ngoài, tiêu diệt 5 vạn quân Xiêm trong trận quyết chiến chiến lược ở Rạch Gầm - Xoài Mút. Tết Kỷ Dậu (1789), nhờ có thêm trí tuệ dồi dào của các danh thần và võ tướng như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Ngô Văn Sở, Nguyễn Văn Tuyết… Quang Trung mới có thể nhanh chóng quét sạch 29 vạn quân Mãn Thanh trong trận quyết chiến chiến lược Ngọc Hồi - Đống Đa, "Đánh cho để dài tóc, Đánh cho để đen răng, Đánh cho chúng chích luân bất phản, Đánh cho chúng phiến giáp bất hoàn, Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ".

2. An Dương Vương nghe lời gièm pha nên xa rời bậc trí dũng song toàn là Cao Lỗ, giao kết với kẻ xảo quyệt là Triệu Đà nên thua trận mà mất. Triệu Quang Phục không nghe lời khuyên của quần thần, kết tình thông gia với Lý Phật Tử để đến nỗi ôm hận mà chết. Phùng An mới lên nối ngôi đã dại dột nghe theo lời xúi giục của kẻ bất tài là Bồ Phá Cần, khiến cho cơ nghiệp Phùng Hưng để lại bỗng chốc bị tan hoang.

Lê Ngọa Triều ăn ở thất đức khiến cho nhân tâm ly tán và người tài quay lưng, nhà Tiền Lê mất ngôi là phải. Lý Huệ Tông không đủ năng lực để tập hợp người tài nên nhà Lý đành chịu mất ngôi. Trần Thuận Tông nhu nhược, sau đó là Trần Thiếu Đế ấu thơ, mạch truyền nối của nhà Trần tất nhiên phải chấm dứt. Lê Hiển Tông bất tài, Lê Chiêu Thống bị khinh rẻ, nhà Hậu Lê không thể kéo dài thêm… Có người tài là có tất cả, mất người tài là mất tất cả, bài học ngỡ như rất đơn giản ấy của lịch sử không phải ai cũng đều ghi nhớ bởi lẽ khi nắm quyền, không ít người tự cho mình giỏi nhất, thiên hạ chỉ là rơm rác, chẳng đáng để họ quan tâm.

Bình Ngô đại cáo


3. Thời nào và ở đâu cũng cần người tài, nhưng người tài là ai ? Xưa, lý tưởng của người đi học thường phân chia thành hai hạng khác nhau, một là học để phò vua giúp nước, hai là học để làm quan. Nếu học để phò vua giúp nước, người ta sẽ học suốt đời, học không bao giờ thấy đủ và học như không hề biết mệt. Học để dùng sở học của mình phục vụ cho quốc gia, họ vui niềm vui tao nhã của người lao động, không chút vụ lợi cũng chẳng chút bon chen. Họ đúng là người tài, là "nguyên khí của quốc gia".

Nếu học để được làm quan, hễ đã làm quan rồi họ sẽ không bao giờ học nữa mà tự đẩy mình vào vị thế của những kẻ hữu danh vô thực. Chủ nghĩa cơ hội và thủ đoạn vun vén cá nhân luôn gắn bó chặt chẽ như hình với bóng, xuyên suốt toàn bộ tiến trình dọc ngang hoạn lộ đáng sợ của hạng thứ hai thấp kém này, dù họ có sở hữu học vị cao đến tận đâu cũng không thể gọi là người có học.

Học vấn, học vị và văn hóa sống không phải lúc nào cũng đồng hành với nhau. Sẽ thật là vô lễ và đại bất kính nếu có ai đó dám hỏi bằng cấp của Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, các Hoàng Đế đầu thời Lý, Lý Thường Kiệt, Tông Đản, các Hoàng Đế đầu thời Trần, Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Khánh Dư, các Hoàng Đế đầu thời Lê Sơ và sau đó là anh hùng áo vải Quang Trung…

Nếu cứ nặng bệnh bằng cấp thì uyên thâm như Trịnh Hoài Đức, sắc sảo như Cao Bá Quát, thiên tài như Nguyễn Du, đa năng như Nguyễn Công Trứ, khảng khái dùng thơ văn để đánh giặc như Nguyễn Đình Chiểu, đạt tới tầm bác học như Phan Huy Chú và cả các nhà cách mạng tiền bối chẳng lẽ không có chút vị thế đáng kể nào.

4. Ngày nay, nguồn nhân tài đất Việt vẫn dồi dào, "nguyên khí của quốc gia" vẫn rất mạnh mẽ và tràn trề sức sống, vấn đề còn lại chỉ là chiến lược khai thác và phát huy hết nguồn nhân tài tiềm tàng đó. Đến đây, ba vấn đề sống còn luôn được đặt ra khắt khe và nghiêm túc.

Một là, nền giáo dục Việt Nam phải thực sự đầy đủ năng lực đào tạo nhân tài cho đất nước. Tại sao khi ra nước ngoài, tuổi trẻ Việt Nam thường rất nổi trội, trong khi đó, nếu ở trong nước, họ chỉ là…! Các nhà hoạch định chiến lược giáo dục phải suy nghĩ về thực tế này.

Hai là, người đi học, dù học ở trình độ nào cũng đều phải xây dựng và củng cố lý tưởng đi học. Nếu xa rời lý tưởng tốt đẹp của việc học, họ sẽ trở thành lực cản của dân tộc trong quá trình đi lên. Ba là, khi đã có người tài tình nguyện cống hiến trí tuệ cho đất nước, các cấp chính quyền cần biết trân trọng đón nhận và phát huy sở trường của họ.

Chỉ có người tài mới đủ năng lực để hiểu và biết cách trọng dụng người tài. Nhưng người tài là người có thực học chứ không phải là người thiếu kiến thức nhưng lại thừa học hàm và học vị. Dù vô tình, họ cũng chính là người góp phần hủy hoại "nguyên khí của quốc gia".