Bài thơ ngũ hành
Nhà thơ Nguyễn Duy có bài thơ dài mang tựa đề: Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ (“Thơ Nguyễn Duy”, Nxb Hội Nhà Văn, 2010, trang 384) chỉ nghe cái tên đã thấy trăn trở bàng bạc màu bát quái. Nhưng đọc một mạch, chỉ thấy một giọng thơ, một hồn thơ hoang hoải, chả thấy kim, mộc, thủy hỏa ở đâu.
Tôi ngắm cái bìa tập thơ trang trí bằng 5 lá tre, với 5 màu khác nhau, lại ngắm bài thơ xếp ở áp chót tập thơ, tôi hiểu ra đây là bài thơ gửi gắm, chứa chất, mang chở rất nhiều, đầy dấu ấn Nguyễn Duy, nói cách khác một bài thơ "mệnh" của nhà thơ. Đó là bài thơ xuất phát từ cõi sâu thẳm trong tám chữ Can Chi rất độc đáo của Nguyễn Duy. Ông sinh giờ Dậu ngày 7.3 (âm lịch) năm Đinh Hợi (1947) (khai sinh năm 1948). Tám chữ Can Chi của đời ông là Năm Đinh Hợi, tháng Giáp Thìn, ngày Bính Tý, giờ Đinh Dậu. Đặc điểm của 8 chữ trên là cứ mỗi cặp can chi lại có một cặp ngũ hành khắc nhau. Đinh Hợi thì có Đinh hành Hỏa, Hợi hành Thủy, thủy khắc hỏa. Giáp Thìn, Giáp hành Mộc, Thìn hành Thổ, mộc khắc thổ. Bính Tý, thủy khắc hỏa. Đinh Dậu, hỏa khắc kim. Một người có bộ can chi ngũ hành đủ năm yếu tố kim mộc thủy hỏa thổ là quý lắm, nói lên rằng tính tình người đó luôn cân bằng, thái độ ứng xử dễ có sự hài hòa. Nhưng lại có đủ bốn cặp hành xung khắc nhau cũng nói lên một lối sống khác thường, luôn có khúc mắc, trắc trở, chật chưỡng, xung đột trên nhiều bình diện. Và với một tài thơ, một phẩm chất trí tuệ khác thường, tất cả những yếu tố "ngũ hành" đó sẽ tạo thành một biểu tượng như trong tập “Thơ Nguyễn Duy” và riêng trong bài thơ mang tên ngũ hành. Bởi vì mệnh làm sao, văn chương bào hao làm vậy. Văn chương là bản sao hành trình số phận của nhà văn.
Cả bài thơ là những cặp đôi câu thơ, từng đôi in cách dòng, mỗi câu có sắc thái riêng, dẫn dắt nhau mà không nhập vào nhau, nhập vào nhau mà không hòa với nhau, tạo một ý vị riêng cho từng cặp, và thường gây bất ngờ cho người đọc: Quả đất nóng dần lên / tầng ôzôn có vấn đề gì đó / Sọ dừa gặp vấn đề trì trệ / tri thức nhồi vào tri thức cứ phòi ra / Mắt vấn đề toét tai vấn đề ù / bất an vấn đề giấc ngủ. Thơ đi từ vũ trụ tới con người, một vùng thao thức tâm trạng, nhân tâm. Đoạn thơ đầu có 12 câu thì có 11 cặp từ "vấn đề" mà không thấy lặp. Chúng ta đang sống trong một thời có nhiều vấn đề quá! Cái gì cũng thành vấn đề, từ tầng ôzôn tới mắt toét, đó lại là dấu ấn một thời "giáo điều" mà cái gì cũng thành một khái niệm có trọng lượng của tri thức, nhưng một thứ tri thức cứ nhồi vào "sọ dừa" thì nó lại phòi ra. Giễu cợt đấy mà thương cảm đấy. Bài thơ cứ thế mà dẫn người đọc vào một thế giới mà chỉ có cấu trúc ngũ hành kim mộc thủy hỏa thổ mới khái quát được.
Cấu trúc đó là ngũ hành tương sinh, tương khắc theo 3 cơ chế. Cơ chế Tương sinh là: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc. Cơ chế Tương khắc là: Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc. Cơ chế tương thừa, tương vũ. Khi một tương tác ngũ hành mất cân đối, một hành nào đó trội lên chẳng hạn, thì sẽ có hiện tượng tương thừa (tức là lấn át), tương vũ (tức là quật trở lại). Ví dụ Thủy khắc Hỏa nhưng nếu Thủy quá mạnh sẽ lấn át, hủy nhân tố Hỏa (lửa bị dập tắt), hiện tượng này là tương thừa. Còn nếu Thủy quá yếu thì Hỏa sẽ quật trở lại, diệt Thủy (nước bị bốc hơi), hiện tượng này gọi là tương vũ.
Theo sự xui khiến của số phận, cả bài thơ nói lên cái cơ chế tương khắc giữa cái Ta với cái Thời ta đang sống. Trong đó có cơ chế tương thừa, tương vũ: thời buổi thị trường mọi việc đều có thể / có thể nước này mua trọn gói nước kia. Thú vị là trong bài thơ ngũ hành nói trên vẫn có những câu thơ theo cơ chế tương sinh: Không thể nói rằng ta bất cần / ta cần sống và cần đủ thứ / cần dinh dưỡng cần khí thở / cần giấc mơ nõn ngọn rau xanh / cần phút lặng thinh mặc niệm những mối tình quan họ / những người tình không giao phối bao giờ. Và vụt sáng lên những câu thơ minh triết của thời đại mới: Ta chúi mũi hà hơi lên trang bản thảo / hô hấp nhân tạo những con chữ khó thở / không có việc gì khó / chỉ sợ không có việc.