Sau gần 40 năm tính từ thời điểm Mỹ rút khỏi Việt Nam, thế hệ những người tham chiến, các cựu chiến binh cũng vãn dần. Nhưng cuộc chiến tranh này tiếp tục có mặt trên những trang sách, các bảo tàng và những cơ quan lưu trữ lịch sử. Và cuộc chiến ấy đã trở thành một phần lịch sử của nước Mỹ, một phần ký ức chung của người dân Mỹ.

Bắt đầu từ những thông tin “rò rỉ” từ vụ công bố “Hồ sơ của Lầu Năm Góc” của các nhà báo phản chiến, trong đó người đọc bất ngờ khi đuợc biết rằng trong Đại chiến II, Mỹ đã từng là Đồng Minh của các lực lượng chống phát xít ở Việt Nam mà người đứng đầu lại chính là Hồ Chí Minh. Tiếp đó là vụ Watergate buộc Tổng thống Nixon, người đã đẩy cuộc chiến ở Việt Nam lên tới đỉnh cao nhất bằng việc sử dụng “pháo đài bay” B52 đánh phá miền Bắc Việt Nam (1972) lại cũng là người đã chấp nhận sự rút lui của Mỹ khỏi cuộc chiến tranh này bằng việc ký kết Hiệp định Paris (1973). Đến khi, Tổng thống Gerald Ford phải ra những mệnh lệnh cuối cùng cho cuộc tháo chạy bằng đường không tất cả những người Mỹ cuối cùng khỏi Sài Gòn sáng ngày 30.4.1975, thì tất cả đã tạo nên “Hội chứng Việt Nam”, buộc người Mỹ phải truy tìm tận gốc để rút ra những bài học về một cuộc chiến tốn kém nhân lực, vật lực cũng như thời gian, mà nước Mỹ không thể nhắc đến từ “chiến thắng”. Và đây cũng là lần đầu tiên nước Mỹ bị chia rẽ sâu sắc giữa nỗ lực tiến hành chiến tranh của Chính phủ với phong trào phản chiến diễn ra mạnh mẽ ngay trong lòng dân chúng nước Mỹ.
Máy bay trực thăng và lính Mỹ trên chiến trường Việt Nam.

“Why Vietnam?” (Tại sao Việt Nam?) là câu hỏi sớm nhất được đặt ra sau khi cuộc chiến đã chấm dứt. Đó cũng là tựa đề một cuốn sách vốn là hồi ức của một cựu đại tá tình báo, L.A.Patti, một nhân chứng đã từng tổ chức những tiếp xúc đầu tiên của Mỹ với khu vực Đông Dương cũng là với các lực lượng dân tộc ở Việt Nam đứng đầu là Hồ Chí Minh. Tác giả cho rằng vì đã không quan tâm tham khảo lịch sử nên việc nước Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh ở Việt Nam chẳng khác gì người thuỷ thủ già đã lỡ tay bắn chết con chim báo báo khiến con thuyền gặp nạn như một câu ngạn ngữ cổ của xứ Ái Nhĩ Lan. Tiếp đó là một cuốn sách được sử dụng như kịch bản cho một bộ phim nhiều tập mang tên “Việt Nam, một thiên lịch sử truyền hình” của Stanley Karnow, cùng với bộ phim “Cuộc chiến tranh 10.000 ngày” có sự tham gia của nhà báo chiến trường nổi tiếng Peter Arnett, là những lời giải đáp sớm nhất cho câu hỏi trên.

Tiếp đó, chúng ta thấy rất nhiều công trình nghiên cứu tổng kết chiến tranh, hồi ức của các tướng lĩnh và chính khách, các loại sách công cụ được xuất bản; nhiều bộ phim tài liệu, những công cụ tập hợp tư liệu bằng hình ảnh, nội dung của lưu trữ quốc gia được giải mật... được công bố trong suốt bốn thập kỷ qua. Một tờ tạp chí mang tên “Vietnam” vẫn đều đặn ra mắt gắn với chủ đề về cuộc chiến tranh này cho đến hôm nay...

Lần này, vào một hiệu sách ở Washington DC, tôi chú ý đến một kệ sách trưng bày nhiều cuốn sách có chung một tiêu đề, tạm dịch “Chỉ dẫn cho những kẻ mít đặc” (The Complete Idiot’s Guide to), sản phẩm của Nhà xuất bản Alpha, thành viên của tập đoàn xuất bản “Penguin Group” nổi tiếng của Hoa Kỳ.

Đây là loại sách phổ biến tri thức được viết cho mọi người. Nó được trình bày một cách rất dễ hiểu nhưng lại truyền đạt những kiến thức rất cơ bản cho người đọc. Và như tiêu đề của hệ sách này, nó dành cho những người chưa hề được trang bị bất kỳ một kiến thức tối thiểu nào về vấn đề mà cuốn sách đề cập tới, kẻ dốt nhất (hoàn toàn mít đặc).

Giới thiệu trên bìa sách cho biết, đến nay loại sách này đã công bố được khoảng 450 sản phẩm, cũng là 450 chủ đề khác nhau liên quan đến rất nhiều lĩnh vực. Và cuốn sách mà chúng tôi mua với giá đồng hạng 19.95USD mang tên “The Vietnam War” viết về cuộc chiến tranh Việt Nam của tác giả là TS Timothy P.Maga. Đây là bản in lần thứ hai cho dù lần đầu xuất bản mới từ năm 2010. Tác giả là một chuyên gia giáo dục trong lực lượng Không quân Mỹ, nghiên cứu và giảng dạy trong khuôn khổ chương trình giáo dục về quân sự của Đại học Maryland. Và dễ hiểu là sách nhằm vào những người không có một chút trải nghiệm nào về cuộc chiến tranh này, cũng có nghĩa là viết cả cho tương lai.

Cuốn sách dày hơn ba trăm rưỡi trang được chia thành 5 chương với 27 chủ đề, với mỗi chủ đề có vài ba câu hỏi rất cụ thể. Ở mỗi chủ đề sách lại đưa ra những tiểu mục nhằm nhấn mạnh đến những nội dung mà người đọc cần lưu ý để tiếp nhận những kiến thức tuy rất phổ thông nhưng lại bảo đảm chất lượng khoa học.

Chương mở đầu của sách cũng bắt đầu bằng câu hỏi “Tại sao Việt Nam?” và cũng đề cập tới nhân vật Hồ Chí Minh như để đưa ra cái định đề vì sao từ đồng minh lại trở thành đối thủ và vì sao Mỹ đã không thắng được trong cuộc chiến này, cho dù có những lý do lịch sử khiến nước Mỹ không thể đứng bên ngoài những sự kiện diễn ra trên bán đảo Đông Dương sau Đại chiến II, vào thời gian mà Chiến tranh lạnh đang chi phối và Việt Nam từ mục tiêu giành độc lập đã lựa chọn chủ nghĩa cộng sản...

Các chương sau nói về quá trình nước Mỹ có mặt tại Việt Nam từng bước bị ràng buộc; rồi chương nói về các bước leo thang, sự bế tắc không thấy ánh sáng cuối đường hầm để rồi chấp nhận thất bại (defeat), và rồi lại tìm cách khai thông... cho đến thời điểm này.

Không chỉ trên những trang sách được xuất bản chưa biết đến khi nào sẽ dứt, cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam còn được định vị trong không gian trưng bày của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Hoa Kỳ. Cuộc Chiến tranh Việt Nam nằm ở thời đoạn cuối cùng của Chiến tranh lạnh với cuộc Chiến tranh Triều Tiên trước đó Mỹ đã tham dự dưới ngọn cờ Liên Hiệp Quốc và sau này là các cuộc chiến tranh Mỹ tham dự được gọi chung là “Vai trò mới của nước Mỹ” (New American Roles) trong đó có cuộc đương đầu với khủng bố diễn ra sau sự kiện 11.9 được trưng bày trong không gian tiếp theo.

Trong một không gian không lớn lắm nhưng trang trọng, phần trưng bày về Chiến tranh Việt Nam được chia làm hai mảng. Bằng ngôn ngữ hiện vật gốc của bảo tàng, chiếc máy bay trực thăng được trưng bày ở vị trí trung tâm như biểu tượng của cuộc Chiến tranh Việt Nam. Tính cơ động của phương tiện chiến tranh này là một thay đổi quan trọng của quân đội Hoa Kỳ vượt ra khỏi các phương thức tác chiến thông thường của các cuộc chiến tranh trước đó, nhằm đối phó với một cuộc chiến tranh vừa mang yếu tố “du kích” nhưng lại đạt tới những quy mô chiến tranh hiện đại mà VC (Việt Cộng, đối thủ của quân đội Mỹ) đã tiến hành trên chiến trường Việt Nam.

Chiếc máy bay được đặt trong tiểu cảnh là những binh lính Mỹ (người sáp) đang tham chiến với những thương vong phải trả là một lính Mỹ bị thương được đồng đội trợ giúp, cho thấy thông điệp mà Bảo tàng muốn nêu lên không phải là một hình ảnh “tô hồng” cuộc chiến mà nhấn mạnh đến hiện thực của một thử thách khắc nghiệt. Rất khiêm nhường nhưng gây ấn tượng là một hiện vật tiêu biểu của đối phương được đặt ngay kề chiếc trực thăng hiện đại. Đó là một chiếc xe đạp thồ với những chi tiết thiết kế rất sáng tạo của một nước nghèo tham gia chiến tranh với một nước giàu kèm theo lời giới thiệu gắn với đường mòn Hồ Chí Minh đã tạo nên sức mạnh của đối phương mà quân đội hiện đại của Mỹ phải ứng phó.

Mảng trưng bày thứ hai là những tấm ảnh tư liệu được sắp xếp theo trình tự thời gian gắn với những bước “leo thang” và “xuống thang” của Mỹ trên chiến trường Việt Nam biểu thị bằng số lượng lính Mỹ tham gia. Bắt đầu từ 1961 (với 11.000 quân nhân), 1966 (181.000), 1968 (536.000), 1970 (334.000), 1972 (24.000)... hơn một trăm tấm ảnh lịch sử được lựa chọn để trưng bày mở đầu bằng chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh (được chú thích là “lãnh đạo miền Bắc Việt Nam” phản ảnh một quan niệm của nước Mỹ cho rằng đây chỉ là sự can thiệp của Mỹ vào một cuộc nội chiến) và tấm ảnh kết thúc là chân dung Tổng thống G.Ford người đã chấm dứt sự tham chiến và có những nỗ lực ban đầu cho sự hàn gắn và hoà giải.

Điểm lại tất cả những tấm ảnh được lựa chọn để trưng bày từ vô vàn những tư liệu hình ảnh, có thể thấy được cái thông điệp, cũng là bài học lịch sử mà nước Mỹ muốn thể hiện trong bảo tàng quốc gia của mình không phải là sự thắng thua trong một cuộc chiến mà nhấn mạnh đến sự chia rẽ trong lòng nước Mỹ trước cuộc chiến này. Đó chính là một bài học lịch sử cay đắng nhưng rất sâu sắc để nước Mỹ có thể hàn gắn hướng tới tương lai, tựa như cuộc nội chiến ở thế kỷ XIX đã đưa đến cho nước Mỹ một sức mạnh để củng cố tinh thần Liên bang và khẳng định giá trị của Tự do.

Vì thế mà trong những hình ảnh được trưng bày chúng ta có thể thấy những tấm ảnh mà lẽ thường theo cách tư duy của người Việt Nam là “tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại”, thì ở Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Hoa Kỳ người ta có cảm nhận rằng họ trưng bày theo nguyên tắc “sâu sắc phô ra, phù phiếm đậy lại”. Vì thế mà ta thấy những tấm ảnh lên án những sai lầm của Mỹ với hình ảnh cuộc thảm sát Mỹ Lai, cô gái bom napan, Hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, tướng Loan hành quyết VC... hay những dấu hiệu của sự thất bại như hình ảnh Tổng thống Johnson phờ phạc bò dài trên chiếc bàn trong Nhà Trắng, những lính Mỹ ưu tư hay hoảng sợ trên chiến trường, trận địa Khe Sanh khốc liệt... và nhất là sự chia rẽ nước Mỹ với hình ảnh các cuộc đấu tranh phản chiến quyết liệt, buổi diễn thuyết của mục sư Luther King hay hình ảnh nữ nghệ sĩ Jane Fonda với chú thích “thăm Hà Nội để ủng hộ Bắc Việt Nam”... Và cuối cùng là Tổng thống G.Ford mệt mỏi làm những công việc cuối cùng để khép lại trang sử, không phải đáng quên mà với người Mỹ là đáng nhớ...

Lần đến thăm Thư viện Quốc hội vô cùng hoành tráng, tôi tìm thấy trong quầy sách lưu niệm một cuốn sách khổ rất nhỏ (loại bỏ túi) có nhan đề “Guide to Vietnam” xuất bản cách nay đúng nửa thế kỷ (1962) được biên soạn để giới thiệu về đất nước, văn hoá và con người và cách ứng xử đối với một vùng đất còn xa lạ với nước Mỹ. Sách dùng trang bị cho những người Mỹ dân sự và các “cố vấn” đầu tiên đến Việt Nam để huấn luyện và hỗ trợ cho Chính quyền Sài Gòn, khởi động cho cuộc Chiến tranh Việt Nam.

Đọc lại trên mạng mới biết cuốn sách này mới được tái bản nhân 50 năm phát hành lần đầu (1962-2012) như lời nhắc rằng một lần nữa nước Mỹ phải hiểu biết Việt Nam, nhưng bài học sau nửa thế kỷ là không phải đến đó để... làm một cuộc chiến tranh.