Sinh ra tại Mỹ, Kimberly Kay Hoàng lấy bằng cử nhân tại đại học UC Santa Barbara, bằng thạc sĩ tại đại học Stanford, bằng tiến sĩ tại đại học UC Berkeley. Đây đều là các đại học hàng đầu của tiểu bang California và đều là những đại học danh tiếng của Hoa Kỳ. Tiến sĩ Hoàng hiện đang làm nghiên cứu sau tiến sĩ (Postdoctoral) tại đại học Rice (Texas, Hoa Kỳ). Hồi tháng trước, nghiên cứu tiến sĩ của chị đối với lĩnh vực mãi dâm tại TP.HCM đã được trao giải Nghiên cứu xuất sắc nhất của Hiệp hội Xã hội học Hoa Kỳ. Đề tài nghiên cứu này mang tên “Tình cảm trong lĩnh vực công nghệ tình dục tại Việt Nam”.

Ngoài giải thưởng cao nhất cho các nhà xã hội học đang hoạt động tại Mỹ nói trên, trước đây chị còn nhận được rất nhiều giải thưởng cho những nghiên cứu của mình tại các trường đại học. Với chị, Việt Nam không chỉ là quê hương xa xôi mà còn là “một trong những xứ sở xinh đẹp bậc nhất” trong số 30 quốc gia mà chị đã đi qua.

Đã trở về thăm Việt Nam 25 lần, kể từ năm 1995 khi còn là một đứa trẻ, nhưng cho đến khi trở lại Việt Nam năm 2005 để du lịch một mình từ Sài Gòn ra Hà Nội, chị đã nhận ra mình có một mối dây gắn bó với đất nước này. Những vấn đề của xã hội Việt Nam dần trở thành đề tài nghiên cứu của chị khi trở lại Hoa Kỳ để tiếp tục theo đuổi con đường học thuật. TS Hoàng trải qua 15 tháng làm việc trong vai trò của một người pha rượu tại 4 quán bar ở Sài Gòn để quan sát và thật sự sống với các cô gái mãi dâm, để đem những tư liệu thực tế này vào nghiên cứu của mình.

Điều gì gây cảm hứng cho chị khi chọn mãi dâm làm đề tài nghiên cứu để lấy bằng tiến sĩ?

- Tôi luôn muốn được sống thật lâu tại Việt Nam nhưng không biết rõ mình phải làm gì ở đó hoặc phải chịu đựng những gì. Tôi cũng yêu thích khoa học xã hội bởi sự quan tâm nghiên cứu đến những ảnh hưởng của tiến trình toàn cầu hóa đối với các quan hệ giữa những người dân ở từng địa phương tôi đã đi qua. Năm 2005, tôi thuê một căn phòng nhỏ trong một căn nhà có 2 người phương Tây, lúc đó người dân trong khu vực đã luôn nghĩ tôi là một cô gái mãi dâm. Điều này khiến tôi phải suy nghĩ.

Đến năm 2006, tôi trở lại Việt Nam để tiến hành những nghiên cứu sơ bộ cho đề tài luận án tiến sĩ của mình. Khi đó, tôi đã làm phỏng vấn với nhiều nạn nhân của nạn buôn người. Mặc dù vậy, tôi đã ngạc nhiên khi phần lớn những người phụ nữ được tôi phỏng vấn lại tỏ ra đồng tình khi tham gia vào nghề mãi dâm bởi vì họ có được cơ hội kiếm tiền tốt hơn là trở thành những công nhân xí nghiệp hay đi làm phục vụ.

Một đêm, tôi bắt một chiếc xe ôm và nói anh ta chở tôi đi vòng quanh Sài Gòn. Anh ta đã đưa tôi đến những khu vực cao cấp nhất cho đến những nơi nghèo khổ nhất và tôi vô cùng thú vị khi quan sát những phân tầng xã hội rất sâu sắc trong nghề mãi dâm. Vì vậy, tôi bắt đầu nghiên cứu về khách hàng của nghề mãi dâm tại Sài Gòn, đó là những người đàn ông Việt Nam nghèo, khách du lịch “bụi” và Việt kiều.

Xin chị kể vài cảm nhận chị đã trải qua khi làm việc trong những quán bar ở Sài Gòn?

- Tôi trở lại Việt Nam vào năm 2009 để bắt đầu chuyến nghiên cứu kéo dài 15 tháng của mình. Suốt thời gian đó tôi cũng tiếp cận phỏng vấn những người Việt Nam giàu có và những doanh nhân Á Châu, Việt kiều, doanh nhân Tây phương và những khách du lịch “ba lô”. Những đối tượng này phản ánh rất rõ ràng về những thay đổi trong kinh tế tại Việt Nam. Tôi nhận ra rằng những phụ nữ Việt kiều như tôi sẽ thuận lợi hơn khi xâm nhập vào những nơi sang trọng như vậy.

Tôi phải nói rằng thời gian làm việc ở những quán bar tại Việt Nam là khốn khổ đến không ngờ. Tôi phải làm việc 12 tiếng, 7 ngày một tuần trong suốt 10 tháng liên tục và trong những tháng cuối tôi thường phải “xỉn” 3-4 ngày một tuần vì uống quá nhiều rượu. Tôi tôn trọng những người làm việc cùng bởi sự thông minh và khả năng xoay sở mưu sinh hơn bất kỳ ai mà tôi biết trước đó. Họ làm mọi thứ để lo cho gia đình một cuộc sống tốt hơn.

Trong một môi trường như vậy khả năng học vấn của tôi chẳng là gì cả, tôi cũng không xinh đẹp và thường xuyên mắc lỗi. Nếu tôi rơi vào hoàn cảnh đó, có lẽ sẽ không thể tồn tại nổi. Thứ kinh nghiệm này đã làm tôi khốn khổ vô cùng.

Chị đã phỏng vấn bao nhiêu phụ nữ làm gái mãi dâm và nghĩ gì về họ, về công việc của họ?

- Tôi đã phỏng vấn 90 khách làng chơi, 90 phụ nữ làm gái mãi dâm, 8 tú bà và 5 chủ quán bar trong khi thực hiện nghiên cứu. Tôi đã học được nhiều thứ từ khách làng chơi lẫn gái mãi dâm và tôi thật sự tôn trọng những người này. Tôi không bao giờ có thể làm được như họ, do đó tôi không coi thường bất kỳ ai trong số này, tất cả họ đều có những câu chuyện riêng của mình sau những gì chúng ta thấy trên bề mặt. Khó khái quát được điều gì chỉ qua 4 quán bar mà tôi đã làm việc.

Điều ngạc nhiên đó là những doanh nhân Việt Nam và Á Châu lại là những người chịu trả giá cao nhất cho các cô gái mãi dâm. Điều này phản bác lại lối suy nghĩ thông thường đối với mãi dâm ở khắp nơi trên thế giới rằng đàn ông Châu Âu thường chịu chi nhiều nhất.

Cũng giống như kinh tế thế giới đã chuyển hướng sang Trung Quốc sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, khách làng chơi lẫn gái mãi dâm Việt Nam cũng thay đổi để phù hợp với nền kinh tế toàn cầu. Chúng ta không thể nào tiếp tục nghĩ rằng Việt Nam là một nước nghèo đói mà phải thấy rằng nó đang phát triển liên tục. Công nghệ tình dục cũng tác động đến sự sôi động của thị trường và đây thật sự là một đề tài nghiên cứu rất thú vị.

Chị có thể nói một chút về mối quan hệ giữa khách làng chơi và gái mãi dâm?

- Điều tôi phát hiện trong nghiên cứu của mình đó là mãi dâm không nhất thiết phải liên quan đến sự trao đổi giữa tình dục và tiền bạc. Vấn đề kinh tế và các mối quan hệ tình cảm thân mật giữa khách và gái bán dâm đôi khi lại đan xen với nhau rất chặt chẽ. Điều đó có nghĩa, đôi khi mối quan hệ giữa khách và gái mãi dâm có thể phát triển thành một mối quan hệ lâu dài hơn, thậm chí đôi khi còn dẫn đến hôn nhân và bảo lãnh di dân đi nước ngoài.

Theo nghiên cứu của tiến sĩ Hoàng, gái mãi dâm tại Sài Gòn được chia ra làm 3 cấp khác nhau. Các cô gái mãi dâm cao cấp xem việc này như một cách trao đổi để lấy những món tiền lớn, các món quà hàng hiệu và đôi khi chỉ vì muốn thử một cuộc sống khác với thường nhật. Phần lớn trong số họ là những người có ngoại hình đẹp, có trình độ đại học và công việc làm với thu nhập tốt trong xã hội, có người là con của những gia đình có mức kinh tế khá. Khách hàng của họ là những doanh nhân Việt Nam và Châu Á giàu có. Do đó, đối tượng này không quan tâm đến vấn đề kết hôn hoặc được bảo lãnh sang nước ngoài.

Với khu vực mãi dâm trung cấp, những cô gái này luôn cố gắng tìm kiếm nhiều mối quan hệ với các đối tượng khách là Việt kiều, khách du lịch và tiếp tục giữ mối liên lạc đó lâu dài qua các phương tiện thông tin. Họ sống bằng nguồn tiền viện trợ của các khách hàng “xa xứ” này cho đến khi đạt được mục đích cuối cùng là tìm một người chấp nhận bảo lãnh họ sang nước khác để bắt đầu làm lại cuộc đời. Cuối cùng là các cô gái mãi dâm trong những xóm lao động nghèo ven trung tâm thành phố. Những người này đa số không học quá tiểu học và chọn nghề mãi dâm như một cách kiếm sống qua ngày. Đối tượng phục vụ của họ là những người lao động Việt Nam nghèo khổ. Họ không có khả năng về ngoại hình lẫn ngôn ngữ để tiếp cận và phục vụ cho đối tượng khách cao hơn.

Nghiên cứu của tiến sĩ Hoàng không chỉ là một nghiên cứu đầu tiên của một người nước ngoài đối với kỹ nghệ tình dục tại Việt Nam, đó còn là một góc nhìn khác những gì chúng ta thường nghe khi nói về nghề này. Việc nhìn thẳng vào nó như một đề tài học thuật là điều vô cùng cần thiết để biết xã hội chúng ta đang có vấn đề trong sự phát triển như thế nào.

Trong một nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) về tình hình mãi dâm tập trung tại 4 nước Thái Lan, Malaysia, Indonesia và Philippines, mãi dâm “đóng góp” từ 2- 14% GDP hàng năm. Mặc dù các tour du lịch tình dục khá phổ biến tại Thái Lan nhưng mãi dâm vẫn là lĩnh vực bất hợp pháp. Theo nghiên cứu của WHO, phụ nữ bán dâm tại Thái Lan đa số xuất thân từ các vùng nông thôn nghèo phía Bắc và Đông Bắc của đất nước này, tiền thu được nhờ hoạt động mãi dâm thường được gửi về để giúp gia đình. Nhiều phụ nữ trong số này, xuất thân từ miền Bắc Thái Lan, vẫn xem mãi dâm là một cách kiếm sống chấp nhận được. Một thống kê chưa đầy đủ từ nghiên cứu này nói có khoảng 200.000 gái mãi dâm đang hoạt động tại Thái Lan.

Tại Malaysia, con số phụ nữ hoạt động mãi dâm được cho rằng nằm trong khoảng gần 143.000 người. Hầu hết các phụ nữ tham gia vào lĩnh vực này đều xuất phát bởi nghèo đói. Hoạt động mãi dâm bị xem là bất hợp pháp tại đất nước Hồi giáo này. Mãi dâm tại Malaysia nấp dưới sự hoạt động của các quán bar, tiệm hớt tóc, quán karaoke, hộp đêm, khách sạn...

Việt Nam cũng được nhắc đến trong nghiên cứu này, gái mãi dâm cấp thấp thường hoạt động trong các tiệm hớt tóc, nhà hàng, quán karaoke... Gái mãi dâm cao cấp thường xuất hiện tại các vũ trường và khách hàng tiếp cận thông qua mạng lưới gái gọi. Đa số các gái làng chơi cao cấp thường không yêu cầu khách sử dụng bao cao su bởi họ tin rằng những người khách giàu có thường không bị HIV, đồng thời tránh bị cáo buộc là gái mãi dâm nếu bị cơ quan chức năng kiểm tra.