Trong mỗi chúng ta, mỗi người đều có một rung động riêng về ca khúc Trịnh Công Sơn. Tôi cũng không ngoài mọi người. Như còn mới đây, những ngày đầu thanh xuân. Khi ấy, tôi đang học ở trường Đại học Thông tin Liên lạc. Một đêm xuân xa nhà, chúng tôi buồn ngồi bên nhau quanh bếp lửa miền Cẩm Khê (Phú Thọ) sơ tán.

Chợt một người bạn - anh Đặng Đình Đào quê ở Lào Cai - ôm đàn hát nghêu ngao: “Mưa lạnh lùng mưa rơi rớt đêm khuya sao não nề / Mưa kéo dài lê thê những đêm khuya lạnh ướt mi”. Giai điệu của ai thế nhỉ? Của tác giả Việt Nam hay nước ngoài? Ngoài trời đêm, mưa vẫn rỉ rắc trên rừng cọ trung du. Chốc lát, lại một cơn gió lạnh lùa vào căn bếp. Giai điệu vừa dịu dàng vừa da diết khiến không ai cầm lòng được. Tôi nhờ Đào chép cho và học thuộc ngay. Nhưng ai là tác giả, tôi chưa hề biết.

Ngày chúng tôi vào Quảng Trị. Ở thị xã vừa giải phóng, tôi lần đầu tiên được uống bia La Rue bọt trắng xốp và mỏng tang, vừa nghe Hương, cô gái bán bia vừa chơi guitar vừa ngân nga: “Mưa vẫn mưa bay / trên tầng tháp cổ/ dài tay em mấy/ thuở mắt xanh xao”. Cô gái nói đó là bản “Diễm xưa” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Cái tên Trịnh Công Sơn bắt đầu có trong tôi từ đấy. Nhưng tôi vẫn chưa biết “Ướt mi” là tình khúc đầu tiên của Trịnh Công Sơn.

Đến ngày vào Buôn Ma Thuột sau mùa xuân 1975, tôi nhặt được trong đống sách vương vãi ngoài đường một cuốn “Ca khúc da vàng” do Trịnh Công Sơn viết tay và tự phát hành với cái tên NXB Nhân Bản.Trong bìa áo cuốn sách, có một câu của người lính Việt Nam Cộng hoà nào đó ghi: “Mẹ Việt Nam ơi! Bao giờ ngưng hết chiến tranh, để chúng con lại được sống chung vui cùng nhau”. Lúc đó, mới thấy ca khúc Trịnh Công Sơn đã thấm đẫm vào thế hệ trẻ miền Nam như câu thơ Nguyễn Bắc Sơn: “Men nhạc Trịnh Công Sơn chảy tràn đêm khuya”.

Tới ngày thống nhất, tôi mới biết “Ướt mi” của Trịnh Công Sơn in trong tập “Tuổi đá buồn” (Nhân Bản) và nghe lại qua giọng Khánh Ly mê hoặc qua băng cối máy cassette AKAI. Tôi như người thèm “của lạ” cứ thế lao vào tìm kiếm sách nhạc và băng Trịnh Công Sơn. Tôi đã chép kín mấy cuốn sổ tay tặng người yêu - hiện giờ là vợ tôi - những tình khúc Trịnh Công Sơn cùng những ca khúc phản chiến. Rõ ràng, Trịnh Công Sơn là một ám ảnh văn hoá sau chiến tranh mà tôi nhập vào mình, cùng những dòng nhạc cách mạng mà từ nó, tôi lớn lên, mà từ nó, tôi cầm súng ra trận. Giai điệu Trịnh Công Sơn cân bằng lại tôi sau những năm chất chồng khí thế.

Hoá ra, cuộc đời còn có những câu chuyện đáng sống khác, bên cạnh “đáng sống bao nhiêu một ngày vì cách mạng” (đầu đề một bài thơ của Lưu Trùng Dương). Tôi nhanh chóng nạp đầy hồn những gì bấy lâu nay còn thiếu bằng giai điệu Trịnh Công Sơn. Trước giải phóng, công chúng của Trịnh Công Sơn là cả Nam Việt Nam, sau thống nhất công chúng của Trịnh Cộng Sơn là cả Việt Nam. Đó có lẽ là lý do Trịnh Công Sơn không lẫn vào đoàn người di tản. Anh đã đứng lại đất mẹ, ôm đàn hát vang “Nối vòng tay lớn”.

Mùa thu 1983, tôi có hai niềm vui. Niềm vui thứ nhất là có con gái Phương An vừa chào đời. Niềm vui thứ hai là gặp Trịnh Công Sơn tại Hà Nội. Năm đó, anh và nhạc sĩ Trần Long Ẩn ra dự Đại hội Hội Nhạc sĩ Việt Nam lần thứ 3. Vậy là có những ngày thảng thốt lãng du qua những địa chỉ kinh thành. Khi thì tại nhà nhạc sĩ Văn Cao 108 Yết Kiêu. Khi thì tại khách sạn Đồng Lợi nơi các anh tạm trú. Khi thì trên nóc gác nhà tôi 60 Hàng Bông. Ở đây, Trịnh Công Sơn vừa uống rượu, vừa nhìn Bùi Xuân Phái vẽ, vừa ngắm những mái nhà phố cổ nhấp nhô như một đại dương để rồi ca từ: “Mái ngói thâm nâu” xuất hiện trong “Nhớ mùa thu Hà Nội”.

Ở đây, Trịnh Công Sơn nghe mọi người hát những ca khúc quen thuộc của anh. Còn anh, thì lại hát một ca khúc mới: “Chiều trên quê hương tôi”. Vui nhất là nghe Phương Thanh - nổi tiếng trong vai “Hiền cá sấu” ở phim “Tội lỗi cuối cùng” hát ca khúc “Đời gọi em biết bao lần” mà Trịnh Công Sơn viết cho phim này. Đến khi cô bạn Dung Hoà hát “Ở trọ” bằng cái giọng khàn khàn thuốc lá, thì Trịnh Công Sơn bỏ kính, nhìn trân trối: “Lạ quá ta”. Tất cả cùng cười và cụng ly.

Cũng vào dịp ấy, tôi mới biết nỗi trắc ẩn của Trịnh Công Sơn khi phải rời xa Huế vào Sài Gòn định cư, để lại căn nhà chân dốc Phú Cam cho nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường và nhà thơ Hoàng Vũ Thuật ở: “Bao năm rồi lòng tôi gãy cùng cây/ Nỗi vắng cách chính là cơn bão lớn/ Có còn đôi khi chỉ là mùi cơm hến/ Một tinh sương văng vẳng dốc Phú Cam ...”. Đấy là những câu thơ tôi viết tặng anh khi hiểu nỗi trắc ẩn này. Thi pháp Trịnh Công Sơn đã thấm vào tôi lúc nào không hay. Nó hoà cùng thơ Andrei Voznesensky, Ritsos... chưng cất ra những sáng tác của tôi.

 Mùa thu 1984, sau chuyến đi sáng tác ở miền Trung, tôi và nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo “đổ bộ” vào Sài Gòn. Chúng tôi tới thẳng căn nhà số 47C Phạm Ngọc Thạch (Duy Tân cũ). Trịnh Công Sơn mừng rỡ lấy ra một chai vodka Nga. Vừa cụng ly, chúng tôi vừa nghe anh hát “Nhớ mùa thu Hà Nội” và “Huyền thoại mẹ”. Cả hai ca khúc đều hay, nhưng tôi nói với anh rằng, có lẽ “Huyền thoại mẹ” sẽ nổi tiếng trước “Nhớ mùa thu Hà Nội” vì khó ngấm hơn (quả nhiên lần ra Hà Nội sau, Trịnh Công Sơn có hát “Nhớ mùa thu Hà Nội” nhưng chẳng mấy ai để ý. Phải đến mươi năm sau, người thưởng thức mới ngấm “Nhớ mùa thu Hà Nội” và yêu nó như hôm nay). Từ sau đêm đó, anh cùng họa sĩ Đinh Cường, Tạo, và tôi cứ thế rong ruổi trên các nẻo đường lãng du giữa âm nhạc và rượu.

Dịp kỷ niệm 10 năm Sài Gòn giải phóng, sau khi cùng Văn Cao vào Quy Nhơn, tôi lại đưa ông vào Sài Gòn. Ở giữa Văn Cao và Trịnh Công Sơn trong các cuộc rượu, lúc nào tôi cũng thấy mình nhận thêm được điều gì đó từ hai con người dị biệt này. Ở Văn Cao, thường là những chiêm nghiệm từ đời sống. Ở Trịnh Công Sơn, thường là những suy tư của con người.

Từ đó, dường như năm nào tôi cũng gặp anh, đàm đạo cùng anh. Khi thì tôi vào Sài Gòn. Thi thoảng anh ra Hà Nội. Vào mười năm cuối thế kỷ, khi anh trở thành “anh hai” của nhóm “Những người bạn” thì giữa anh và tôi lại có thêm Từ Huy hết lòng vì mọi người. Mùa thu 1997, anh ngã bệnh nặng. Khi tôi và Từ Huy vào bệnh viện thăm, ngỡ anh không thể qua khỏi. Vậy mà anh đã vượt qua tử thần ở chặng hiểm nguy này. Mùa xuân 1998, chúng tôi lại vui vẻ rượu vang cùng anh. Lúc ấy lại nghe “Tiến thoái lưỡng nan” như từ cõi chết vút lên. Mùa thu 1998, lại hoan hỷ gặp nhau giữa kỷ niệm 1.000 năm thành phố Quy Nhơn. Với anh là “Biển nhớ”, còn tôi là “Quy Nhơn thành phố thi ca”. Quy Nhơn là nơi anh từng nhiều năm tháng học trường Sư phạm.

Cuối tháng 3.2001, tôi gọi máy cho anh nói rằng tôi đang viết sách âm nhạc cho thiếu nhi, muốn đưa bài “Đoá hoa vô thường” vào cuốn “Ballade”. Anh cười qua điện thoại: “Đúng đấy! Bài ấy thể Ballade đấy. Kha chọn là đúng rồi”. Không ngờ vào ngày cá tháng Tư 1.4.2001, Trịnh Công Sơn giã biệt cuộc đời ở tuổi 63.

Bây giờ, đã 12 năm qua, Trịnh Công Sơn đã yên nghỉ tại nghĩa trang Gò Dưa “Đứa con xa đã tìm về nhà/ đất hoang vu khép lại hẹn hò...” nhưng giai điệu âm nhạc của anh vẫn rền trên dương thế như giai điệu Đặng Thế Phong, Lê Thương, Văn Cao... Và còn rền vang mãi mãi trong tôi, trong muôn người. Cuối 2012, tôi được mời vào Hội đồng xét cấp phát những ca khúc phản chiến của Trịnh Công Sơn. Kết quả là ngày 9.1.2013, Cục Nghệ thuật Biểu diễn đã cấp phép cho 8 ca khúc: “Cánh đồng hòa bình”; “Đồng dao hòa bình”; “Người mẹ Ô Lý”; “Nước mắt cho quê hương”; “Đôi mắt nào mở ra”; “Dựng lại người, dựng lại nhà”; “Ta thấy gì đêm nay”; “Chờ nhìn quê hương sáng chói”. Rồi đến lúc, mọi ca khúc Trịnh Công Sơn sẽ rền vang mãi mãi trên dương gian.