Đường dây nóng: 096 838 3388. Liên hệ quảng cáo: 04.39232694
Minh ToànBáo Lao Động
“Giữ hồn” nhà rông Một góc nhà rông truyền thống.

“Giữ hồn” nhà rông

(LĐCT) - Số 24 - Chủ nhật 24/06/2012 14:07

Nhà rông có vai trò quan trọng trong đời sống sinh hoạt, tín ngưỡng của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Trong chừng mực nào đó, nhà rông như đình làng ở miền xuôi, là nơi thực thi các luật tục, nơi tiếp đón khách, nơi diễn ra các lễ hội trọng đại của dân làng, cũng là nơi người dân bàn luận các công việc hệ trọng của buôn làng, duy trì các nếp văn hóa đặc sắc từ đời này sang đời khác.

Để xây dựng nhà rông, mỗi người một việc, được sự phân công và sắp xếp chặt chẽ của cộng đồng làng... Song đáng tiếc, “hồn” nhà rông đã và đang bị mai một.

“Làng đàn bà”

Đối với đồng bào các dân tộc thiểu số Bắc Tây Nguyên nói chung và người Ba Na nói riêng, hai yếu tố quyết định đến việc thành lập một ngôi làng mới là nhà rông và giọt nước. Nhà rông là linh hồn, là cội nguồn không thể thiếu đối với đồng bào các dân tộc thiểu số. Nhà văn Nguyên Ngọc, người nhiều năm gắn bó với mảnh đất Tây Nguyên cho rằng, nhà rông là linh hồn của làng.

Ở vùng Ba Na, người ta gọi một ngôi làng không có nhà rông là “làng đàn bà”, tức là một ngôi làng chưa ra làng, chưa xứng đáng là làng. Bởi vậy, ngay từ ‘năm 1999, UBND tỉnh Kon Tum đã ban hành Chỉ thị 21 về việc duy trì và khôi phục nhà rông truyền thống vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Từ khi có chủ trương này, nhiều làng đồng bào dân tộc thiểu số đã huy động sự đóng góp của cả cộng đồng để xây dựng nhà rông. Nhờ vậy, từ 265 nhà rông, đến nay, 588 làng đồng bào dân tộc thiểu số thì có đến 505 làng có nhà rông hoặc nhà dài.

Ngoài sự hỗ trợ của Nhà nước thì cộng đồng đóng góp công sức xây dựng nhà rông. Một số nhà rông phát huy vai trò trong đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số, nhiều nhà rông làm nơi chào cờ, diễn ra các lễ hội mừng công báo công... Tại một số ngôi nhà rông, chính quyền địa phương vận động già làng, các nghệ nhân tổ chức dạy cồng chiêng, hướng dẫn dệt vải... nhằm bảo tồn và phát huy nét văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc.

Nhìn từ xa, nhà rông được xây dựng đúng nguyên bản của đồng bào các dân tộc thiểu số, uy nghiêm như cánh buồm no gió đang lướt sóng ra khơi, hay như lưỡi rìu đang vút ngược lên trời xanh dũng mãnh như thách thức sự khắc nghiệt của điều kiện thời tiết Tây Nguyên, bất chấp mưa nắng, con người vẫn một lòng son sắt thủy chung. Nhà rông được xây dựng nơi cao ráo, đặt ở vị trí trung tâm của làng.

Nhà rông làng Kon Tum Kơ Nâm chuẩn bị thay bằng mái tôn.

Cả cộng đồng xây dựng nhà rông

Theo nhiều vị già làng và nghệ nhân, để hoàn thành một ngôi nhà rông phải kéo dài 2 đến 3 tháng. Song trước đó, dân làng phải huy động hàng ngàn ngày công trèo đèo, lội suối vào tận rừng sâu tìm nguyên vật liệu như tre, nứa, gỗ... Trước tiên, chọn vị trí xây dựng nhà rông là công việc hệ trọng của làng.

Chị Y Jút - trưởng thôn Kơ Nâm, phường Thắng Lợi, TP. Kon Tum - cho biết: “Trước đây xây dựng nhà rông theo nguyên bản của đồng bào Ba Na là huy động cả cộng đồng tham gia. Phải chuẩn bị gỗ, nguyên vật liệu từ 1 đến 2 năm. Dân làng vào rẫy, ngủ tại rẫy để cắt tranh, lấy gỗ, chặt rui mè. Thậm chí đi cách xa làng khoảng 50 - 60km, người dân đùm theo nắm cơm để ăn qua bữa. Người dân rất vui được lấy nguyên vật liệu làm nhà rông”.

Già A Píc trú tại làng Kon Klor, phường Thắng Lợi, TP. Kon Tum đã bước sang tuổi 80, đã chứng kiến bao thăng trầm của lịch sử, niềm kiêu hãnh ngôi làng có nhà rông vẫn in đậm trong trí nhớ: “Đối với người Ba Na, từ bao đời trước đã có nhà rông, nhà rông là cội nguồn sức mạnh của dân làng, là trái tim của dân làng”. Ngôi nhà rông đồ sộ, sừng sững giữa trời xanh nhờ đôi bàn tay khéo léo, tài hoa của các nghệ nhân, không một tấc sắt, không một lỗ đinh nhưng vững chãi với cái mưa, cái nắng ở Tây Nguyên.

Cực nhọc qua bao tháng ngày nên ngày khánh thành nhà rông cũng là ngày hệ trọng vào bậc nhất của dân làng. Không ai bảo ai, mỗi gia đình tự nguyện đóng góp từ 2 - 3 ghè rượu, góp tiền mua trâu về cúng nhà rông. Ở đó, mỗi chàng trai, cô gái, từ trẻ đến già vui đùa thỏa thích, nhảy múa hết mình, kéo dài thâu đêm đến sáng. Đầu con vật hiến sinh trong lễ hội được treo tại một vị trí trang trọng trong nhà rông, chứng minh sự tồn tại của nhà rông từ thế hệ này sang thế hệ khác. Thế nhưng, những năm gần đây do sự xâm lấn văn hóa từ bên ngoài thông qua mạng Internet, diện tích rừng ngày càng thu hẹp, nguy cơ “linh hồn” nhà rông cũng đang bị đánh cắp.

Đâu còn “linh hồn”?

Làng Kơ Nâm - nghĩa Ba Na gọi là “làng dưới”, là một trong những ngôi làng cổ như Kon Sơ Lam, Kon K’tu, Kon Rơ Bàng... Do vậy, vấn đề chọn đất, xây dựng nhà rông tại ngôi làng này được các vị già làng đặc biệt quan tâm. Song đáng tiếc, từ năm 2011 đến nay, mái tranh nhà rông làng Kơ Nâm có nguy cơ dột nát gây mục giàn gỗ, già làng đã huy động cộng đồng góp công, góp sức cắt tranh về lợp lại nhưng hiếm hoi người tham gia.

Chị Y Jút - người 4 nhiệm kỳ làm trưởng thôn Kơ Nâm - thở dài: “Cách đây khoảng vài chục năm, khi mình còn già làng huy động đóng góp công sức xây dựng nhà rông ai cũng sẵn sàng tham gia. Bây giờ thấy khó quá. Hôm họp làng biểu quyết góp tranh lợp lại nhà rông, cả 225 hộ với 1280 khẩu nhưng biểu quyết lần thứ nhất chỉ vỏn vẹn 9 người thống nhất. Cả làng tiếp tục biểu quyết, xin ý kiến lần thứ hai thì lèo tèo 5 người đồng ý đi cắt tranh lợp lại nhà rông, còn hầu hết thống nhất nộp tiền mua tôn về lợp”.

Một góc nhà rông bằng bêtông cốt thép. Ảnh: Minh Toàn

Thực hiện chủ trương của làng, một số gia đình nghèo túng như gia đình neo đơn A Thảo góp mỗi ngày 5 ngàn, 10 ngàn, góp mãi cũng đủ 300 ngàn; gia đình già A Nhếch góp 2 tháng mới tròm trèm 300 ngàn... Đến nay, cả làng có đến 50% số hộ nộp mỗi gia đình 300 ngàn đồng để mua tôn lợp lại nhà rông. Già A Hứa ở làng Kơ Nâm bảo: “Nhà rông lợp tranh ấm áp về mùa đông, mát mẻ về mùa hè. Trước đây, mỗi năm sinh hoạt diễn ra tại nhà rông chỉ một vài lần. Tối đến thanh niên ngủ tại nhà rông bảo vệ làng, nhưng ngày nay, ban đêm chỉ có đội tự quản của làng trông coi. Thanh niên tụ tập tại nhà rông thường uống rượu, quậy phá. Lợp tôn tồn tại từ 10 đến 15 năm, còn lợp tranh chỉ được 3 - 4 năm”.

Cũng với quan điểm này, nhiều dân làng giải thích: “Bây giờ đi xuống tận huyện Chư Pảh, tỉnh Gia Lai hoặc xuống huyện An Khê, tỉnh Gia Lai - cách làng Kon Tum Kơ Nâm khoảng 60 - 70km tìm kiếm tranh cũng rất hiếm, cây gỗ to chỉ bằng bắp chân tìm mãi cũng không thấy. Gỗ đã bị lâm tặc chặt hết rồi, rừng đã khai hoang làm sắn, làm bắp, không còn rừng cho tranh mọc nữa, nên lợp tôn khỏe hơn!”.

Ông Nông Hồng Công - Chủ tịch UBND phường Thống Nhất, TP. Kon Tum - cho rằng: “Đã phân tích, lý giải cho người dân tiến hành phương án tu sửa nhà rông cho phù hợp với bản sắc văn hóa dân tộc, nhưng người dân thống nhất thay mái tôn để sử dụng được nhà rông lâu dài. Mặt khác, nguồn nguyên liệu làm nhà rông khan hiếm, việc đi lấy nguyên liệu ảnh hưởng không nhỏ đến công ăn, việc làm của người dân. Vì vậy, quyết định thay mái nhà rông làng Kơ Nâm từ lợp tranh sang lợp tôn là nhu cầu cấp thiết để bảo vệ các hạng mục khác của nhà rông”.

Già A Hiểu - làng Kơ Nâm gần như thấu hiểu linh hồn nhà rông đang bị mất đi, nói giọng trầm buồn: “Trước đây đời ông bà của mình có khi nào làm nhà rông mà lợp tôn đâu. Mình thấy nhà rông mà lợp tôn không phù hợp, thấy kỳ kỳ. Những nghệ nhân biết làm nhà rông rồi đây cũng không còn. Cả làng chỉ mỗi ông Đinh An là nghệ nhân chính nhưng tuổi đã cao, sức yếu, lại bị bệnh huyết áp nên không dám cho ông An trèo lên nóc nhà rông sửa lại mái tranh. Còn lũ trẻ bây giờ không quan tâm, không tâm huyết với nhà rông nữa, chúng tranh thủ đi bốc vác mỗi ngày được vài trăm ngàn đồng. Ban đêm một số đứa tập trung nhậu nhẹt, rồi vào quán nét (Internet). Khi sửa lại nhà rông, lũ trẻ chẳng bận tâm, để mấy ông già quyên góp, huy động những người già tham gia sửa chữa nhà rông”.

Chắc có lẽ ông Nông Hồng Công không biết rằng, tại xã Hơ Moong, huyện Sa Thầy, một ngôi nhà rông được xây dựng bằng bêtông, cốt thép, mái lợp tôn đã bỏ hoang nhiều năm qua, nay trở thành nơi nuôi nhốt dê của người dân trong vùng. Ông Nguyễn Văn Niệm - Chủ tịch UBND xã Hơ Moong, huyện Sa Thầy - cho biết: “Nhà rông nơi này xây dựng không phù hợp tập quán, tín ngưỡng của người dân nên họ không dùng”. Và một số nơi trên địa bàn tỉnh Kon Tum vẫn còn không ít nhà rông mái lợp tôn “trắng héo”, cột bêtông cốt thép hoặc bằng gỗ đang nằm chơi vơi, thô kệch giữa làng!

Nhằm cứu vãn tình thế, bà Lê Thị Kim Đơn - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Kon Tum - đã ban hành văn bản yêu cầu UBND các huyện, thành phố thống kê tình trạng các nhà rông (nhà rông văn hóa) có mái lợp bằng tôn (thay vì bằng tranh) hoặc có sự biến dạng kiến trúc so với nhà rông truyền thống; đề xuất hướng giải quyết nhằm bảo đảm giữ được nét đặc sắc văn hóa nhà rông của đồng bào dân tộc thiểu số Kon Tum.

Đấy là quyết tâm của chính quyền tỉnh Kon Tum, còn việc giữ hồn nhà rông quan trọng nhất là huy động sự vào cuộc của cả cộng đồng và giữ rừng. Theo nhà văn Nguyên Ngọc, đối với người Tây Nguyên, rừng hoàn toàn không chỉ là vật chất, là môi trường theo nghĩa hẹp. Rừng là tâm linh, là cội nguồn văn hóa. Còn nhà nghiên cứu văn hóa Tây Nguyên Linh Nga Niekdăm thì cho rằng: “Tiếng cồng tiếng chiêng chỉ thực sự thiêng liêng, trở thành văn hóa khi nó liên hệ với rừng, bởi nó sinh ta từ... rừng, còn rừng để kết nối”. Đây cũng là niềm trăn trở cho những ai yêu quý mảnh đất Tây Nguyên...

Gửi ý kiến của bạn

(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. Báo Lao động điện tử có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết. Những bài viết này sẽ không được trả nhuận bút)
 
 (*)   (*)  
Protected by FormShield
Refresh
 
 

Các dịch vụ