4 sắc phong thời Nguyễn cho Lý Nhật Quang
Chủ Nhật, 5.9.2010 | 07:10 (GMT + 7)
Đền Tam Toà thờ Uy Minh Vương Lý Nhật Quang thuộc địa phận xã Nghi Công Bắc, còn sắc phong cho Vương thì được lưu giữ ở đền Khảo Sơn thuộc xã Nghi Công Nam (đều ở huyện Nghi Lộc).
Gần 1000 năm trước vùng đất 2 xã này từng được Thái tử Lý Nhật Quang, bấy giờ làm Tri châu Nghệ An, chiêu dân về khai hoang, lập ra 7 thôn, cho xây dựng thành luỹ căn cứ đóng quân, căn cứ này sách vở gọi là Trại Nhà Bà, dân gian gọi là Bãi Nhà Bà (có thể là đặt theo tên Bà Bụt đã từng hỗ trợ cho Lý Nhật Quang khi xây dựng lỵ sở Bạch Đường, và suốt cả chặng đường của ông trong sự nghiệp xây dựng phát triển châu Nghệ An dưới triều Lý?).
Đây là vùng đất rộng lớn, cây cối rậm rạp dưới chân dãy Đại Huệ rất thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ ém quân, bảo vệ phía Đông - Nam lỵ sở Bạch Đường qua đường Gia An - Truông Sỏi. Từ căn cứ này có thể đưa quân ứng cứu nhanh cho phía biển Cửa Lò, Cửa Hội, Cửa Vạn, và cho trung tâm đô hội bến cảng Xuân Giang, kho trại Vĩnh Phong (Vinh).
Để bảo vệ căn cứ thêm vững chắc, Lý Nhật Quang đã chiêu dân lập ra các làng xã ở vùng này, nên sau khi ông mất được cư dân lập đền thờ tại đây. Đền rất linh thiêng dựng ở đất Tam Toà, nay thuộc xóm 1, xã Nghi Công Bắc. Đền gồm có ba toà thượng, trung, hạ điện. Đền nằm ở vị trí đẹp, được các núi thuộc dãy Đại Huệ bao bọc, bên tả là núi Cụp Trống; bên hữu là núi Cụp Gạo, một dòng suối uốn quanh bên phải qua ngay hồi Đền, có kè đá xanh chống lở và làm bến lấy nước.
Ở đây có cây Trôi cổ thụ ước khoảng hơn 50 khối gỗ, nên suối chảy qua đây được gọi là suối Cây Trôi, dân gọi là cơn Trôi. Suối có 8 nguồn nước đều từ các núi thuộc dãy Đại Huệ đổ về, gọi là 8 khe: Đá Bạc, Chúc Mào, Sườn Bò, Phú Lâm, Đá Vàng, Chò Nạng, khe Gấc, khe Vả. Phía trước đền khoảng 1,5km có khe Trổ (còn gọi là Hạc Thuỷ, tức là dòng Hạc) quanh co uốn lượn qua động cửa Đền, chảy về cầu Chợ Mới nên còn gọi là sông Chợ Mới.
Cửa đền gọi là cổng Tam Toà rất uy nghi, phía trước là một bãi rộng gọi là Bãi Nhà Bà và Bãi Gia An, nay một phần đắp thành đập và một phần đã trồng rừng keo lá tràm, phong cảnh tuyệt đẹp nên thơ. Vì đền là một trong 18 nơi thờ Tam Toà lớn nhất và linh thiêng nhất xứ Nghệ, nên các triều Vua đã phong Thần tới Thượng Thượng đẳng và Đại vương. Đại tự ghi Lý triều đế tử (con vua triều Lý). Thần vị ghi Tam Toà hữu quốc lịch triều sắc phong Uy Minh Vương trác vĩ Thượng Thượng đẳng Đại vương tôn thần vị tiền.
Theo sự giới thiệu của các cụ Nguyễn Văn Châu, Đinh Bạt Cường, Nguyễn Đình Đệ, chúng tôi được tiếp cận chụp lại 4 bản sắc phong cho Uy Minh Vương Lý Nhật Quang còn được lưu giữ ở xã Nghi Công Nam, 4 sắc phong lần lượt các triều như sau:
1. Sắc chỉ Nghệ An tỉnh, Hưng Nguyên huyện, Hải Đô - Nguyệt Tỉnh nhị xã tòng tiền phụng sự Vệ chính phù chân dực thiện quang ý Tam Toà Trung đẳng thần. Tiết kinh ban cấp sắc phong chuẩn kỳ phụng sự Tự Đức tam thập nhất niên chính trực, Trẫm ngũ tuần đại khánh tiết kinh ban bảo chiếu đàm ân lễ long đăng trật. Đặc chuẩn hứa y cựu phụng sự dụng chí quốc khánh nhi thân tự điển. Khâm tai!
Tự Đức tam thập tam niên, thập nhất nguyệt, nhị thập tứ nhật.
Tạm dịch:
Sắc cho hai xã Hải Đô - Nguyệt Tỉnh, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An phụng thờ thần: Vệ chính phù chân dực thiện quang ý Tam Toà Trung đẳng thần. Nhân dịp đại khánh tiết mừng thọ vua 50 tuổi và theo kỳ ban cấp sắc phong thần năm Tự Đức thứ 31 sắc phong cho thần để phụng thờ. Đặc chuẩn như trước phụng thờ theo điển lễ đã ghi trong khánh tiết triều đình. Vậy thay!
Ngày 24, tháng 11, năm Tự Đức thứ 33 (tức năm Canh Thìn - 1880).
2. Sắc Uy Minh Vương Tam Toà tôn thần, nguyên phong Vệ chính phù chân hữu thiện quang ý Dực bảo Trung hưng Trung đẳng thần. Hộ quốc tí dân nẫm trứ linh ứng. Tứ kim phi lỵ, Trẫm mệnh diến niệm thần hưu, trước gia phong Vi trác vĩ Thượng đẳng thần. Chuẩn Nghệ An tỉnh, Hưng Nguyên huyện, Hải Đô - Nguyệt Tỉnh nhị xã y cựu phụng sự. Thần kỳ tướng hữu bảo ngã lê dân! Khâm tai!
Thành Thái nhị niên, nhị nguyệt, nhị thập nhật.
Tạm dịch:
Sắc cho thần Uy Minh Vương Tam Toà, nguyên phong Vệ chính phù chân hữu thiện quang ý Dực bảo Trung hưng Trung đẳng thần. Thần đã cứu nước giúp dân rất linh ứng. Nay xét thấy công lao của thần, Trẫm thay mệnh trời phong lên bậc cao nhất là Vi trác vĩ Thượng đẳng thần. Chuẩn cho hai xã Nguyệt Tỉnh - Hải Đô, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An như trước phụng thờ. Thần hãy phù trợ bảo vệ cho dân. Vậy thay!
Ngày 20, tháng hai, năm thành Thái thứ 2 (tức năm Canh Dần - 1890).
3. Sắc chỉ Nghệ An tỉnh, Hưng Nguyên phủ, Hải Đô - Nguyệt Tỉnh nhị xã tòng tiền phụng sự Vệ chính phù trực hữu thiện quang ý Dực bảo Trung hưng trác vĩ Tam Toà Thượng đẳng thần. Tiết kinh ban cấp sắc phong chuẩn kỳ phụng sự Duy Tân nguyên niên tấn quang đại lễ kinh ban bảo chiếu đàm ân lễ long đăng trật. Đặc chuẩn y cựu phụng sự dụng chí quốc khánh nhi thân tự điển. Khâm tai!
Duy Tân tam niên, bát nguyệt, thập nhất nhật.
Tạm dịch:
Sắc chỉ cho hai xã Nguyệt Tỉnh - Hải Đô, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An theo trước phụng thời thần: Vệ chính phù trực hữu thiện quang ý Dực bảo Trung hưng trác vĩ Tam Toà Thượng đẳng thần. Nay đến kỳ ban cấp năm Duy Tân nguyên niên theo đại lễ tấn quang triều đình long trọng ban chiếu sắc phong. Đặc chuẩn như trước phụng thờ theo như ghi trong điển lễ triều đình. Vậy thay!
Ngày 11, tháng 8, năm Duy Tân thứ 3 (tức năm Kỷ Dậu - 1909).
4. Sắc Vệ chính phù trực Dực thiện quang ý Tam Toà Trung đẳng thần hướng lai hộ quốc tí dân nẫm trứ linh ứng. Tiết mông ban cấp tặng sắc Á tự. Tứ kim phi ưng Trẫm mệnh diến niệm thần hưu khả gia tặng Dực bảo Trung hưng Trung đẳng thần. Nhưng chuẩn hứa Nghệ An tỉnh, Hưng Nguyên huyện, Hải Đô - Nguyệt Tỉnh nhị xã y cựu phụng sự. Thần kỳ tướng hữu bảo ngã lê dân. Khâm tai!
Đồng Khánh nhị niên, thất nguyệt, sơ nhất nhật.
Tạm dịch:
Sắc: Vệ chính phù trực Dực thiện quang ý Tam Toà Trung đẳng thần đã có công cứu nước giúp dân rất linh ứng. Nay xét công lao của thần, Trẫm thay mệnh trời đến kỳ ban cấp tiếp tục tặng sắc cho thần là Dực bảo Trung hưng Trung đẳng thần. Chuẩn cho hai xã Nguyệt Tỉnh - Hải Đô, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An phụng thờ như trước. Thần hãy phù hộ che chở cho dân. Hãy noi theo!
Ngày mồng 1, tháng 7, năm Đồng Khánh thứ 2 (tức năm Đinh Hợi, 1887).
* * *
Trước thềm đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, việc lần đầu tiên tìm thấy 4 bản sắc phong là một phát hiện quan trọng. Qua 4 bản sắc phong của các triều Tự Đức, Thành Thái, Duy Tân, Đồng Khánh cho ta thấy Thần đã được phong ở bậc cao nhất là Trác vĩ, Trung đẳng và Thượng đẳng thần. Phát hiện này gúp phần làm rõ hơn tiểu sử nhân vật Lý Nhật Quang, ghi nhận công lao trị nhậm cai quản của Ngài với vùng đất xứ Nghệ là rất to lớn, phát hiện cũng góp phần làm rõ hơn dấu ấn lịch sử vương triều Lý trên đất Nghệ An.
Đào Tam Tĩnh - Mai Thuận
CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG