Đại tá hải quân 5 lần được gặp Bác Hồ
Thứ Năm, 2.9.2010 | 07:19 (GMT + 7)
"Tôi không hiểu sao cuộc đời mình - một chiến sĩ quân đội nhân dân - lại có những giây phút kỳ diệu đến thế: 5 lần được đưa đón Bác" - đại tá Trần Bạch - nguyên Trưởng Thanh tra quân sự - Bộ Tư lệnh Hải quân - tâm sự với tôi trong căn phòng tập thể giản dị tại khu tập thể Vạn Mỹ, Hải Phòng.
Tấm huy hiệu Bác trao
Tháng 7.1952, Tổng Quân uỷ triệu tập Hội nghị chiến tranh du kích Bắc Bộ. Lúc này, tôi là thư ký của chiến trường Tả ngạn, được thủ trưởng đơn vị chọn xuống phục vụ hội nghị. Được mấy hôm thì tôi được giao nhiệm vụ chuẩn bị điều kiện sinh hoạt cho Bác Hồ. Nghe rõ mồn một mà tôi không tin ở tai mình nữa. Nhận xong nhiệm vụ, tôi lao vào công việc. Vừa làm, vừa hình dung về Bác. Ba ngày sau, vào buổi sáng đẹp trời, Bác đột nhiên xuất hiện trong bộ quần áo kaki giản dị quen thuộc, cưỡi con tuấn mã màu đen. Tôi dán mắt vào Bác, ngắm nhìn từ động tác xuống ngựa, đi vào hội nghị, thật bình thường, gần gũi.
Bài nói chuyện hôm đó, Bác đề cập đến nhiều vấn đề chiến lược về chiến tranh du kích. Cách nói chuyện của Bác thật dễ hiểu, không lý luận chung chung, mà rất cụ thể, rõ ràng, dễ nhập tâm. Nói chuyện xong, Bác ân cần tới thăm nơi ăn nghỉ của các đại biểu. Tôi thấy Bác như người ông, người cha của mình, sao mà gần gũi, thân thiết lạ thường... Lúc đó, tôi tròn 18 tuổi.
Lần thứ hai, tôi được gặp Bác là vào năm 1953. Lúc này tôi là lính của C281 D79, E102 Đại đoàn Quân tiên phong. Từ Đèo Khế, đơn vị tôi hành quân lên Điện Biên. Tôi nhớ buổi chiều máy bay địch bỏ bom dữ dội, đồng đội thương vong nhiều. Đang gấp rút hành quân, đơn vị đột ngột chuyển hướng sang Lào. 30 tết năm đó, chúng tôi ở Mường Sài. Sau đó từ Thượng Lào, đơn vị về Điện Biên. Tiểu đoàn 79 của tôi do đồng chí Giáp Văn Khương là Tiểu đoàn trưởng, có nhiệm vụ đánh cứ điểm Nà Noọc trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Giải phóng Điện Biên, Bác Hồ lên tặng huy hiệu của Người cho các đơn vị, trong đó có Sư đoàn Quân tiên phong.
| Ông Bách (người đầu tiên bên phải) đang được Bác hỏi chuyện trong một bữa cơm thân mật (ảnh tư liệu do đại tá Trần Bách cung cấp). |
Kể đến đây, đại tá Trần Bạch lấy ở tủ ra một hộp màu vàng đưa tôi xem tấm Huy hiệu Bác Hồ mà anh được Bác trao.
Đơn vị tôi được lệnh nhanh chóng về tiếp quản thủ đô. Chúng tôi về thủ đô theo đường Cầu Phùng, trực tiếp tiếp quản một nhà máy - nay là trụ sở của Chính phủ. Buổi chiều ngày 10.10.1954, trời thu Hà Nội trong xanh lồng lộng, may mắn làm sao, Sư đoàn 308 lại được tập trung dưới sân Cột cờ Hà Nội để nghe Bác nói chuyện. Giọng Bác vang vang truyền cảm giữa trời thu thủ đô vừa tan bóng giặc, sao mà thiêng liêng đến thế. Tôi đinh ninh lời Bác căn dặn: “...Các chú là người lính của dân, chiến đấu vì hạnh phúc của nhân dân, nên phải chú ý làm công tác dân vận thật tốt, giữ nghiêm kỷ luật vì thủ đô ta vừa mới được giải phóng...”.
5 năm sau, tôi không ngờ mình lại được đưa đón Bác, được trò chuyện, ăn cơm với Bác. 7 giờ sáng 30.3.1959, Bộ Tư lệnh Hải quân lệnh cho tàu 154 chuẩn bị đón Bác và đồng chí Nguyễn Lương Bằng đi tham quan vịnh Hạ Long, Bái Tử Long và một số đơn vị trên đảo. Mặc dù mấy ngày trước đó, tàu đã được báo trước chuẩn bị đón khách, nhưng khi nhận được lệnh, cả tàu như cuống cả lên, lúc đầu không biết làm việc gì trước nữa. Lúc này tôi là Trưởng ngành cơ điện tàu 154. Người đầu tiên ra đón Bác là thủ trưởng Bộ Tư lệnh và Trường Sĩ quan Hải quân. Ngoài nhiệm vụ chuyên môn trên tàu, tôi được giao nhiệm vụ giữ cầu để Bác và đồng chí lãnh đạo lên tàu cho an toàn. Hai tay tôi thì giữ cầu tàu cho thật chắc, nhưng mắt lại ngước nhìn lên Bác. Sau 5 năm kể từ lần ngồi nghe Bác nói chuyện ở chân Cột cờ Hà Nội, lần này tôi thấy Bác béo khoẻ hơn.
Trên đường đi, một số người dân trên thuyền buồm phát hiện ra Bác. Thế là tất cả hô to: “Hồ Chủ tịch! Hồ Chủ tịch muôn năm!”. Chúng tôi cùng các đồng chí bảo vệ Bác chẳng biết làm thế nào nữa, đành kết thành hàng kín đứng che cho Bác. 12 giờ trưa, tàu đến vịnh Hạ Long, tàu đưa Bác vào Hòn Than vịnh Đâng thả neo rồi dùng xuồng chở Bác cùng đồng chí Nguyễn Lương Bằng lên đảo ăn cơm trưa. Chúng tôi che ô và bảo vệ Bác để Bác ăn cơm thật ngon. Cơm của Bác do các đồng chí công vụ mang theo. Sau 2 giờ, tàu chúng tôi lại đưa Bác rời đảo và cập cảng Bãi Cháy.
Sáng hôm sau, xe đưa Bác đi thăm mỏ than Hòn Gai. Tàu 154 và tàu 152 được lệnh sang cập bến Hòn Gai chờ đưa Bác đi thăm vịnh và đảo. Đảo đầu tiên Bác đặt chân là Tuần Châu. Tàu thả neo. Tôi và 3 đồng chí khác chèo xuồng đưa Bác lên đảo. Vì không có cầu xuồng, một số sĩ quan đi giày còn loay hoay chưa biết xử trí ra sao thì Bác đi thẳng cả dép xuống, thế là mọi người để cả giày đi xuống nước. Bác nói chuyện với nhân dân trên đảo, trong đó có một ý Bác nhấn mạnh “phải xây dựng Tuần Châu thành một khu nghỉ mát đẹp của đất nước!”. Nhìn khu nghỉ mát Tuần Châu hiện đại hôm nay mới thấm thía tầm nhìn xa trông rộng của Bác.
Buổi chiều hôm đó, cán bộ, chiến sĩ mời Bác và đồng chí Nguyễn Lương Bằng ăn cơm. Bác nhận lời. Bữa cơm trên tàu với Bác có đồng chí đại uý Nguyễn Thế Chinh - Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Hải quân, thượng uý Nguyễn Tư Tường - Chính trị viên Đại đội 3, trung sĩ Bùi Văn Đào - lính tín hiệu của tàu và tôi - thượng sĩ Trần Bạch - Trưởng ngành cơ điện tàu 154. Bữa cơm có món thịt gà luộc, lòng gà xào với mì. Mọi người bắt đầu ngồi vào bàn. Bác liền nói với đồng chí nấu ăn: “Món của ta đã xong chưa, mang lên đây góp cùng ăn với các chú hải quân!”. Lát sau đồng chí nấu ăn của Bác mang đĩa cá rô phi - quà của Tỉnh uỷ Quảng Ninh biếu. Trong lúc ăn cơm, Bác và mọi người vừa ăn, vừa trò chuyện. Tôi chẳng còn bụng dạ nào mà ăn nữa, chỉ nhấm nháp, chủ yếu nhìn Bác và nghe Bác nói. Tôi không thể ngờ, một thượng sĩ trên tàu mà lại có vinh dự lần thứ tư gặp Bác, được ăn cơm cùng Bác. Đây là lần tôi được gặp Bác gần nhất, chỉ cách một chiếc bàn. Bác bảo: “Ăn cơm bất kỳ ở đâu, với ai cũng phải ăn hết, không được để thừa, đổ đi lãng phí, mà để người khác ăn thì không được”. Hạnh phúc hơn, Bác hỏi trực tiếp công việc của tôi, tôi ấp úng trả lời: “Thưa Bác, cháu phụ trách cơ điện, máy móc trên tàu. Máy móc và điện phải tốt thì tàu mới hoạt động tốt được ạ!”. Nghe xong, Bác gật đầu.
Vinh dự Cát Bà
Hôm sau - ngày 1.4, hai tàu 154, 152 lại nổi hồi còi dài rẽ sóng đưa Bác đi thăm hòn Rồng, rồi thăm đảo Cát Bà. Lúc đó, Cát Bà chưa có cảng như bây giờ. Bác nói chuyện động viên cán bộ, nhân dân trên đảo Cát Bà phải vượt qua khó khăn, đẩy mạnh sản xuất, Bác đề nghị: “Cát Bà phải trở thành làng cá!”. Vinh dự, từ đó, ngày 1.4 hằng năm trở thành ngày truyền thống của làng cá Cát Bà và của ngành thuỷ sản cả nước.
Từ Cát Bà, tàu lại rẽ sóng, cùng muôn cánh hải âu đưa Bác đến thăm Cát Hải. Vừa đặt chân lên đảo, Bác đã cùng đoàn đến thăm các gia đình thương binh, liệt sĩ, sau mới trở về nơi đón tiếp nói chuyện với quân dân trên đảo. Từ Cát Hải, tàu vượt biển vào cửa Nam Triệu, đưa Bác về cảng Hải Phòng.
Ngay buổi tối, Bác nói chuyện với cấp uỷ thành phố “hoa phượng đỏ”. Tôi vinh dự được đơn vị cử đi nghe. Tôi đã ghi lại được những điều cơ bản trong bài nói của Bác. Quyển sổ đó đến nay vẫn còn. Nói rồi, đại tá Bạch đưa tôi xem trang vở giấy đã bạc màu, nét chữ cũng bay gần hết mực, nhưng vẫn còn đọc rõ: “Bác căn dặn người cán bộ phải có tinh thần trách nhiệm, tinh thần phấn đấu, tinh thần tổ chức kỷ luật. Phải có lòng tin: Tin mình, tin Đảng, tin giai cấp, tin nhân dân. Phải đồng kham cộng khổ, khiêm tốn với mọi việc mình làm hằng ngày. Muốn thực hiện những điều trên thì phải: Đoàn kết trên dưới, phê bình phải dân chủ...”. Bác còn chỉ ra nhiệm vụ trước mắt của Hải Phòng là phải phòng bệnh, phòng, chống lụt bão, hạn hán, chống đầu cơ tích trữ. Bác còn căn dặn mỗi người đảng viên phải học thuộc lòng nhiệm vụ của người đảng viên và áp dụng vào công tác hằng ngày. 51 năm rồi, lời Bác vẫn như còn văng vẳng bên tai. Chỉ cần được 4 lần gặp Bác như thế quả đã mãn nguyện rồi, thế mà tôi còn được gặp Bác một lần nữa!
Ngày 13.11.1962, lúc này tôi đã là Thuyền trưởng tàu 120 của Phân đội 1, Căn cứ 1 hải quân. Đang mùa huấn luyện thì được điện tàu chuẩn bị hộ tống khách. Lập tức tôi lệnh cho các ngành trên tàu chuẩn bị. Lần này, tàu 120 được giao nhiệm vụ cùng tàu 122 hộ tống tàu Hải Lâm (chiếc tàu gỗ của Chủ tịch Mao Trạch Đông tặng Bác) chở Bác và đồng chí Zecman Titốp - Anh hùng phi công vũ trụ Liên Xô - đi thăm vịnh Hạ Long. Đội hình đi theo một hàng dọc. Tàu 120 làm nhiệm vụ đi trước dẫn đường, tàu Hải Lâm đi giữa, còn tàu 122 đi sau bảo vệ. Tôi tập trung tâm trí, chỉ huy các ngành của tàu hoạt động, đảm bảo lúc nào tàu cũng giữ khoảng 2 niên - tức là khoảng 360m với tàu chở Bác. Tới Hạ Long, tàu dừng lại, Bác cùng Anh hùng Titốp lên hòn đảo nhỏ tắm. Cũng từ đó hòn đảo này được Bác đặt tên là đảo Titốp.
Tôi không hiểu sao cuộc đời một chiến sĩ hải quân bình thường như tôi lại có những phút giây kỳ diệu 5 lần được phục vụ Bác, được gặp Bác, được đưa đón Bác, được bảo vệ Bác, được ăn cơm cùng với Bác. 5 lần được gặp Bác, đó chính là tài sản vô giá của cuộc đời tôi! Nhất là trong những ngày kỷ niệm Sinh nhật Bác, cả nước đang dấy lên phong trào học tập và làm theo tấm gương đạo đức sáng ngời của Bác, thì những kỷ niệm 5 lần được gặp Bác cứ náo nức như sóng biển dội về trong tôi như mới ngày nào được gặp Người...
Hưng Quý
CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG