Tôi, dù 45 năm nay gắn bó với tờ báo, nhưng chưa bao giờ dám nghĩ tới chuyện “sống lâu lên lão làng”, chỉ là người “thức khuya mới biết đêm dài” mà thôi. Trong cái “đêm dài” ấy, có những nhà văn - nghệ sĩ để lại cho tôi những ấn tượng rất đời. Đến nỗi mỗi lần nhớ lại, không nói chuyện tác phẩm, tôi chỉ thấy các ông lãng đãng trong cõi đời như những ''ông Hiền'', đến với Lao Động, làm một vài việc rồi lại lãng đãng đi…

* Cách đây hơn 30 năm, tôi cùng anh Đỗ Trọng Giang (TBT báo thời 9 năm) đi mấy ngày đường lên Lai Châu (cũ) thăm nhà văn Mạc Phi - nguyên phóng viên Báo Lao Động ở Việt Bắc. Hoá ra ông này sau năm 1954 không về xuôi, theo bà vợ miền ngược lên Tây Bắc. Hai vợ chồng ông vẫn ở ngôi nhà lá ven đồi, bước ra cửa là sông Đà ầm réo ngày đêm. Anh Mạc Phi nói, tớ phải ở rừng từ hồi chống Pháp đến giờ để viết về rừng. Về Hà Nội viết như... sáng tác hồi ký, nó giả giả thế nào... Mấy năm sau ông già yếu, cũng phải về Hà Nội và bộ tiểu thuyết “Rừng động” ra đời. Có lẽ đó là bộ tiểu thuyết viết dày dặn nhất về người miền rừng. Khi cuốn sách đang làm xôn xao văn đàn về một đề tài tưởng đã quên thì ông lặng lẽ ra đi. Tôi nghĩ, ông về xuôi để in sách, trả nợ núi rừng, rồi lại lên rừng thôi. Để một đời đi “thực tế” một đề tài như ông cũng hiếm. Tôi kính trọng ông hơn những người ngồi phòng máy lạnh, mài ký ức ra viết về rừng núi đã đi qua một thời nào đó.

* Từ toà soạn 51 Hàng Bồ sang nhà ông Bùi Xuân Phái chỉ hơn 300 bước chân. Hằng tuần, tôi và nhà thơ Dương Quân vẫn sang đặt minh hoạ cho trang văn nghệ. Ông Nguyễn Tuân gọi ông là “Phái phố”, vì ông hay vẽ phố cổ quanh nhà, thuộc phường Hàng Bồ, Hàng Bạc, Đồng Xuân... Tôi lại thích gọi ông là ông “Phái đường”, vì hay gặp ông lững thững ngoài đường, cắp cặp đồ vẽ qua cửa Báo Lao Động, qua hai ngã tư Lương Văn Can và Hàng Đào, sang Hàng Bạc vẽ phố. Tôi mời ông vào uống nước, ông bảo phải đi không hết nắng. Nghề phải thế, nhưng sao tranh ông lại toàn gam màu trầm lắng, u hoài hồn phố cổ, cứ nhìn tranh đã thấy buồn thiu cả lòng. Ông ở căn gác xép bằng gỗ bé tý. Ông đọc bản thảo tôi cầm đưa sang khá kỹ, rồi vẽ ngay ra một mảnh giấy bất kỳ đưa tôi. Ai thích cái tranh nào (cũng nho nhỏ), ông cho ngay. Số tôi không giàu, vì không nghĩ ra số tranh đó sau này bán bạc tỉ. Mỗi lần cầm dăm đồng nhuận tranh sang đưa ông, tôi cứ nóng ran cả tai vì sự bèo bọt của thời cuộc. Bù lại, bọn tôi thường xách theo cút rượu, gói lạc để “vi thiềng” ông. Hồi ấy, nhìn khuôn mặt khắc khổ như tạc với cái mũ vải bốn mùa, xem những bức tranh của ông tôi cứ mơ hồ như đang gặp ai. 30 năm sau, khi vào các bảo tàng Châu Âu xem tranh, đến Hà Lan tôi giật mình, hình như mình đã gặp Van Gogh cách toà soạn hơn 300 bước...

* Ông Văn Cao là một ''ông Hiền'' làm việc nhiều cho tờ Lao Động hơn cả. Ông viết, vẽ, biên tập, làm thơ, sắp chữ, sáng tác bài “Công nhân Việt Nam” (Công nhân ca) tại 51 Hàng Bồ thời 45-46-47, lên chiến khu ông chuyển sang làm văn nghệ. Thập niên 60-70, chúng tôi gặp ông có hai cái sợ. Sợ lớn nhất vì ông tài hoa quá. Sợ hơi hơi là giao du với ông lại có người để ý... Sau này, khi nước nhà thống nhất, chúng tôi vẫn đến nhà ông đặt tranh minh hoạ, có năm đặt bìa báo tết. Khác ông “Phái đường”, ông Văn chỉ nghe qua loa nội dung rồi vẽ ngay. Vẽ nhanh để còn thời gian uống. Một ông già bé nhỏ, râu tóc hoang vu bạc, chuyện trò hóm hỉnh, hút điếu cày. Tranh ông vẽ toàn khuôn mặt đàn bà, những con mắt, những chiếc lá buồn buồn, những biểu tượng của cái Đẹp. Cầm tranh về nộp, tôi cứ lo lo, nhỡ sếp không duyệt vì Báo Lao Động nhiều chất đe búa, máy cày, gàu xúc lắm. Thế mà chẳng ai nói gì, còn khen. Thế mới biết đã là cái Đẹp thì như cụ Nguyễn Du viết “Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình”. Sau này, mỗi lần đến Báo Lao Động liên hoan vào các dịp lễ lạt, ông vui lắm, ông nói: Hồi 45, báo Lao Động in được ở Hà Nội do công của tao về lấy chữ in ở nhà ông bố vợ mang sang Hàng Bồ in đấy. Hồi ấy ông yếu, đi phải chống batoong, có bà Bằng đi kèm lo gắp cho ông, cơ bản ông uống là chính, ăn như ve sầu ăn sương. Lần cuối ông đến uống với Lao Động, tôi “chào cụ Văn”, ông giơ batoong chỉ vào mặt tôi: Gọi là cụ tao đánh. “Cụ Văn” cũng không được, “cụ Cao” càng cấm, gọi thế là xỏ lá, nó lái lại thì còn ra làm sao. Tôi cười sặc cả sợi miến lên mũi. Đám tang ông đông như mua vé tàu tết ở ga Sài Gòn bây giờ. Tôi với anh Tiến Chước phải nói lót với nhà văn Trọng Tân - Chánh Văn phòng Hội Nhà văn - mới được đội cái vòng hoa của Ban Văn hoá lên đầu vào lạy ông “Đoàn quân Việt Nam đi” lần cuối.

* Còn một ông nữa, nếu không nói chắc nhiều người sẽ quên. Đó là nhà văn Võ Huy Tâm - nguyên phóng viên Báo Lao Động thời chống Pháp. Ông này là thợ lò 99%. Còn 1% ông viết tiểu thuyết “Vùng mỏ”. Ông sáng tác theo lối chương hồi của truyện kiếm hiệp (trước thời chưởng Kim Dung), cuối chương ông viết: “Muốn biết số phận Tuấn, Min, Den ra sao, xem hồi sau sẽ rõ”, được giải thưởng văn học Việt Nam đầu tiên. Chẳng ai viết về đời thợ mỏ bằng ông. Sau kháng chiến, ông lại về mỏ. Thỉnh thoảng ông về Hà Nội họp Hội Nhà văn nhà viếc gì đó. Đến thăm toà soạn cười nói oang oang, toàn chuyện cười. Truyện ngắn cuối cùng ông gửi cho Báo Lao Động, có lẽ là lần duy nhất bị gác. Chuyện kể về  một anh thợ mỏ làm khoẻ, chơi cũng khoẻ; chẳng may “hy sinh” vì “phạm phòng”. Lúc nhập quan để đưa ông xuống âm phủ mà cái kia vẫn cứng, không chịu xuống. Chỉ có nhà văn thợ mỏ Võ Huy Tâm mới sống và viết được như thế. Tiếc là ban lãnh đạo Lao Động hồi đó chưa đủ lực để “chơi những quả độc”, chắc chắn báo bán chạy. Các ông đi, để lại tác phẩm cho đời, để lại cho Lao Động những kỷ niệm dừng chân không bao giờ phai mờ.