TS Phan Thanh Hải. Ảnh: H.V.M

Câu trả lời hơi là lạ, nên chuyện giữa tôi và ông đã bắt đầu bằng sự học và chơi. Khi là sinh viên Văn khoa năm thứ nhất của Đại học Tổng hợp Huế, tôi đã được nghe giai thoại về sự học của TS Phan Thanh Hải, cựu sinh viên khoa Sử như thế này: Hồi đó cả sân Trường Đại học Tổng hợp chỉ dưới gốc cây bàng là có ánh điện và đêm nào ông Hải cũng ôm một chồng sách từ ký túc xá ra ngồi ở đó để đọc cho đến 1-2h sáng. Hơn 16 năm sau, tôi mới có dịp kiểm chứng giai thoại này.

Ông nói: "Đúng là thời còn là sinh viên tôi ham mê nhiều thứ, mà mê thứ gì thì đều quyết tâm thực hiện đến nơi đến chốn. Hồi đó tôi mê học võ lắm, suốt 5 năm học đại học (tôi có học một năm dự bị) tôi đi tập rất đều, sẵn sàng nhịn đói để tập và xin đến sân tập cả những hôm thầy không cho phép. Khoá học của tôi, lúc đầu có gần 100 võ sinh, nhưng 5 năm sau thì chỉ còn mình tôi.

Bước vào đại học tôi mới biết ngoại ngữ là gì, mà hồi đó học tiếng Nga với nhiều người là cực hình, nhưng với tôi đó lại là một môn học tôi rất yêu thích, nên sau 3 năm học tôi đã dịch được một số truyện ngắn gửi đăng báo. Sau này, các môn ngoại ngữ khác cũng vậy, chủ yếu do ham thích mà nỗ lực tự học thôi. Vì ham mê nhiều thứ nên dĩ nhiên tôi phải học bù khi các bạn ngủ. Có lẽ vì thế mà mới sinh ra giai thoại nọ chăng?".

Nhưng sự thực hồi đó không phải lúc nào chúng tôi cũng học đâu, chơi nhiều lắm! Sau này, thỉnh thoảng có dịp tham gia dạy hay hướng dẫn các bạn sinh viên làm luận văn, khoá luận, tôi thường khuyên họ nên biết học và biết chơi hết mình. Nếu không biết chơi, không ham mê và có sự nỗ lực thì chắc chắn khó làm được một việc gì đó ra hồn. Đó là một kinh nghiệm hay mà tôi rút ra từ bản thân...".

Trở lại với công việc của ông. Dù vẫn còn rất nhiều khiếm khuyết, nhưng qua thực tiễn, Huế vẫn là địa phương được đánh giá là làm công tác bảo tồn, trùng tu và phát huy các giá trị di tích thuộc loại tốt nhất nước hiện nay. Người ta có nói "quá" cho Huế không?  

- Đây là khẳng định của các chuyên gia, các nhà khoa học của Hội đồng Di sản quốc gia, của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, của UNESCO và của nhiều du khách. Điều đó khiến chúng tôi rất tự hào, nhưng cũng thấy trách nhiệm của mình càng nặng nề hơn. Rõ ràng, Huế có ưu thế là địa phương có quần thể di tích dày đặc, nếp sống và môi trường văn hoá truyền thống còn được giữ gìn khá tốt, đội ngũ nghệ nhân cổ truyền còn khá nhiều.

Bên cạnh đó, sự quan tâm của các tầng lớp nhân dân đối với công tác bảo tồn cũng là một lợi thế. Việc Huế trở thành di sản thế giới đầu tiên của Việt Nam cũng tạo điều kiện để chúng tôi hội nhập quốc tế nhanh hơn. Riêng về lĩnh vực này, có thể nói Huế là địa phương đã xây dựng được quan hệ hợp tác quốc tế sớm nhất và khá có hiệu quả. Từ thực tiễn của công tác bảo tồn, từ những bài học và kinh nghiệm quốc tế, và dĩ nhiên, một điều rất quan trọng nữa phải kể đến là năng lực và tâm huyết của những người làm công tác bảo tồn, Huế mới đạt được thành quả như ngày hôm nay. Tuy nhiên, chúng tôi luôn cảm thấy chưa hài lòng với những gì đang có, bởi về khoa học bảo tồn, chúng ta vẫn đi sau khá xa các nước phát triển.

- Với tư cách là người đứng đầu Trung tâm BTDTCĐ Huế, trên vai ông bây giờ là gánh nặng của cả một di sản đồ sộ do cha ông để lại, trăn trở và lo lắng nhất của ông đối với quần thể di tích Huế bây giờ là gì?

- Là làm sao bảo tồn gìn giữ được cả một di sản khổng lồ mà cha ông đã để lại. Ngày xưa Huế là kinh đô của cả nước, có thể huy động tiền tài vật lực của cả quốc gia cho việc xây dựng, gìn giữ cung điện, đền đài, lăng tẩm...; nhưng nay, dù là di sản thế giới, di tích đặc biệt cấp quốc gia nhưng mức độ quan tâm đầu tư cho quần thể ấy vẫn còn hết sức hạn chế. Chính vì vậy, để bảo tồn gìn giữ các di sản trên là điều vô cùng khó! Nói thật là, với mức kinh phí được cấp hiện nay, chúng tôi chỉ đủ để chống xuống cấp cho các di tích và trùng tu một vài công trình cấp thiết. Bên cạnh đó là việc phát huy giá trị các di sản. Chúng ta có quá nhiều thứ quý, nhưng phát huy giá trị của chúng vẫn còn nhiều hạn chế lắm...

Những người làm công tác bảo tồn ở Huế đã phải nỗ lực vượt khó rất nhiều vì vướng đủ điều. Ví dụ như cơ chế, chính sách cho bảo tồn di sản hiện này còn nhiều chỗ vướng mắc, chưa thoả đáng; chẳng hạn như định mức cho công tác nghiên cứu khoa học để xây dựng dự án, định mức cho các nghệ nhân tham gia công tác bảo tồn (cả trên lĩnh vực văn hoá vật thể và phi vật thể), rồi nhận thức của cộng đồng, người dân đối với việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản... Dĩ nhiên, những vấn đề ấy cũng là cái khó của nhiều nơi, nhưng ở Huế, có lẽ do tính chất đặc thù nên chúng luôn hiển hiện rõ nhất.

Rồi việc trong khu di sản có quá nhiều dân cư sinh sống cũng là một trở ngại rất lớn cho công tác quản lý di tích và cả khi đền bù, giải phóng mặt bằng để trùng tu di tích ấy. Những quy định chưa hoặc không còn phù hợp trong các thủ tục hành chính cũng là một trở ngại rất lớn, khiến nhiều khi làm chúng tôi rất lúng túng. Chúng ta nói nhiều đến cải cách thủ tục hành chính, nhưng hiệu quả đạt được vẫn còn khá hạn chế. Bởi vậy, các dự án bảo tồn di sản hiện nay thường vận hành rất chậm và cứ phải điều chỉnh liên tục. Chúng tôi rất mong có được cơ chế ngày càng thoáng hơn, càng trao quyền chủ động nhiều hơn cho đơn vị quản lý di sản...

TS- nhà nghiên cứu Trần Đức Anh Sơn- từng nhận xét rằng: "Hiện nay trong công tác trùng tu di tích cố đô Huế, người ta quan tâm tới bề nổi hơn là bề sâu. Theo sự hiểu biết của tôi, lẽ ra chúng ta phải ưu tiên trùng tu các công trình kiến trúc trọng yếu trước khi trùng tu các công trình kiến trúc phụ, ví dụ phải sửa xong chính điện rồi mới làm trường lang để nối các chính điện với nhau. Nhưng trong thực tế, người ta đang ưu tiên làm các công trình phụ trước, còn các dự án trùng tu các công trình chính thì triển khai rất chậm".
 
- Còn nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm cho rằng: "Ngày nay nhiều hoạt động tinh thần được thực hiện theo nguyên tắc của tiền bạc chứ không phải của nguyên tắc văn hoá, đạo đức, dẫn đến việc nhiều tài sản văn hoá quý giá ở Huế chưa được khảo sát, hệ thống hoá và phát huy đầy đủ". Ông nghĩ gì về hai nhận xét này?


- Mỗi người có một quan điểm riêng về vấn đề này. Nhưng như ở trên tôi đã khẳng định, hiện nay công tác bảo tồn đang gặp rất nhiều khó khăn, nguồn lực còn rất hạn chế. Vậy thì khả năng chạy theo bề nổi (tức triển khai những công trình lớn, những dự án "hoành tráng") làm sao có thể thực hiện được!

Ở một khía cạnh khác, chính từ kinh nghiệm trùng tu di sản Huế và thông qua hợp tác quốc tế, chúng tôi thấy rằng, công tác trùng tu di sản ở Việt Nam hiện nay vẫn rất cần đi từ cái nhỏ đến cái lớn để bổ sung tư liệu và tích luỹ kinh nghiệm. Chẳng hạn, để có thể phục hồi điện Cần Chánh, bên cạnh công tác nghiên cứu rất công phu, chúng tôi phải lần lượt trùng tu phục hồi những công trình nhỏ hơn như Tả Tùng tự (lăng Minh Mạng), điện Long Đức, điện Chiêu Kính (Thái Miếu)... để từ đó đúc rút kinh nghiệm, lựa chọn giải pháp phù hợp nhất. Vả lại, để có thể triển khai những dự án lớn, chúng ta cũng phải cần nguồn lực rất lớn. Điều đó chưa phù hợp trong bối cảnh khó khăn hiện nay.

Dĩ nhiên, bối cảnh xã hội hiện tại là rất phức tạp. Trong công tác bảo tồn di sản văn hoá cũng nảy sinh nhiều vấn đề. Ở nơi này nơi kia cũng đã xảy ra một số chuyện đau lòng cho di sản vì chạy theo thành tích hay làm dối, làm ẩu. Nhưng tôi tin rằng, ở Huế, các công việc đang được vận hành tương đối tốt và đúng hướng.  

- Xin cảm ơn ông.
TS Phan Thanh Hải sinh năm 1969 tại Thừa Thiên - Huế; tốt nghiệp khoa Sử, Trường Đại học Tổng hợp Huế, bảo vệ luận án tiến sĩ lịch sử năm 2008 với đề tài về thủ phủ chúa Nguyễn xứ Đàng trong và công trình này đoạt giải thưởng sử học Phạm Thận Duật (giải nhì) của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam năm 2009.
Ông làm việc tại Trung tâm BTDTCĐ Huế từ năm 1992, là Giám đốc trung tâm từ tháng 4.2012 đến nay.
Các công trình đã công bố:

"Dấu ấn Nguyễn trong văn hoá Phú Xuân"; "Du lãm danh thắng Trung Hoa"; "Với di sản Huế" cùng hơn 10 đầu sách viết chung.