Các trường đại học được tự chủ trong tuyển sinh, xây dựng chương trình đào tạo, cấp văn bằng... Ảnh: Kỳ Anh
Dự thảo Luật Giáo dục Đại học giao quyền tự chủ cho các trường đại học:
Cần có lộ trình và sự đồng bộ
Dự thảo (DT) Luật Giáo dục Đại học (GDĐH) đang được Quốc hội (QH) đưa ra thảo luận với quan điểm “xem tự chủ là một thuộc tính tự thân của trường đại học” – có nghĩa bất cứ cơ sở GDĐH nào đủ điều kiện hoạt động là có đủ các quyền tự chủ theo luật định.
Xét mặt hình thức, quan điểm này rất công bằng, nhưng phải có lộ trình để các trường đáp ứng một cách đồng bộ những yêu cầu của luật thì mới có thể thực sự tự chủ.
Tạo chuyển biến lớn
Trong các DT Luật GDĐH trước đây, mặc dù quyền tự chủ đã được đưa ra, nhưng dưới hình thức giao có điều kiện, khiến quyền tự chủ vẫn còn... “nửa vời”! Đến nay, DT Luật GDĐH mà QH đang xem xét, các nội hàm của quyền tự chủ, như: Tự chủ về tổ chức nhân sự; về hoạt động đào tạo (bao gồm tuyển sinh, chương trình đào tạo, cấp văn bằng); về hoạt động khoa học và công nghệ; về hoạt động hợp tác quốc tế; về bảo đảm chất lượng giáo dục; về tài chính và tài sản... đã được thể hiện dứt khoát theo hướng đẩy mạnh việc trao quyền tự chủ, để các cơ sở GDĐH tự quyết định những vấn đề chuyên môn cụ thể thuộc phạm vi hoạt động của mình; còn cơ quan quản lý nhà nước chỉ làm nhiệm vụ giám sát hoạt động của nhà trường và tập trung vào trách nhiệm chính là hoạch định chính sách và giám sát, kiểm tra việc tổ chức thực hiện.
Điều khẳng định rõ nhất về việc giao quyền tự chủ là, trong DT luật có 3 quy định xác định cơ sở GDĐH tự chủ trong xây dựng, thẩm định, ban hành chương trình đào tạo; tự chủ trong in ấn phôi văn bằng, cấp văn bằng cho học viên; tự chủ trong thu học phí tương xứng với chất lượng đào tạo. Như vậy, nếu DT luật được thông qua và sau đó được hướng dẫn theo đúng tinh thần này, các cơ sở GDĐH sẽ có hành lang pháp lý thông thoáng để hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo, chắc chắn sẽ tạo chuyển biến lớn trong sự nghiệp giáo dục đại học tại VN.
Cần có lộ trình
Đáng nói, tự chủ đã được xác định “là một thuộc tính tự thân của cơ sở GDĐH” thì không có lý do gì để phân biệt đối xử. Vì vậy, trong DT Luật GDĐH đã không quy định loại trường nào được giao quyền tự chủ, loại trường nào thì không, quyền tự chủ của các cơ sở GDĐH có ngay từ khi mới thành lập hoạt động. Ngoài ra, DT Luật GDĐH giao quyền tự chủ mà không phân biệt đó là trường công lập hay tư thục, nhằm tránh cơ chế xin – cho về quyền tự chủ, đã tạo hành lang pháp lý một cách công khai, minh bạch và bình đẳng giữa các cơ sở GDĐH. Tuy nhiên, ở Điều 32 DT luật quy định: “Cơ sở GDĐH không còn đủ năng lực để thực hiện quyền tự chủ hoặc vi phạm pháp luật trong quá trình thực hiện quyền tự chủ, thì tùy thuộc mức độ, bị hạn chế quyền tự chủ, đình chỉ hoạt động đào tạo hoặc giải thể nhà trường”.
Như vậy có nghĩa, DT luật đã “mặc định” tất cả các cơ sở GDĐH đều có quyền tự chủ ngay từ khi thành lập, quá trình hoạt động nếu có vi phạm mới phải chịu chế tài, trong đó có hình thức hạn chế quyền tự chủ, hoặc đình chỉ hay giải thể. Tuy nhiên, nhìn thực trạng các cơ sở GDĐH nước ta hiện nay, đặc biệt là các cơ sở GDĐH mới thành lập hoạt động nhưng chưa thực hiện đầy đủ các cam kết khi lập dự án, như chưa đảm bảo được những điều kiện cơ bản về cơ sở vật chất, về tuyển sinh, về giảng dạy... thì việc giao quyền tự chủ ngay từ đầu là chưa thể và chưa nên, mà cần có lộ trình nhất định. Đặc biệt, đối với những hoạt động như xây dựng chương trình đào tạo, cấp văn bằng, nhất là công tác tuyển sinh của các cơ sở này, chắc chắn phải có hướng dẫn cụ thể và được sự giám sát chặt chẽ từ phía Bộ GDĐT.
Vì vậy, DT luật nên tiếp cận vấn đề này theo hướng: Khi các cơ sở GDĐH thành lập, bắt buộc phải thực hiện đồng bộ và thực chất các quy định mang tính điều kiện, điều này đồng nghĩa với việc công nhận sự tự chủ của các cơ sở GDĐH. Bên cạnh đó, cần có biện pháp để những cơ chế hạn chế vi phạm, như: Hội đồng trường; việc kiểm tra – giám sát của cơ quan nhà nước về tổ chức thực hiện, cơ chế kiểm định chất lượng... được các cơ sở GDĐH tuân thủ nghiêm ngặt.