Nhất khí a thành

Tôi hỏi: “Thiết bút thư sinh” có nghĩa gì? “Vì hay dùng bút sắt, nên bạn bè quen gọi tôi là thiết bút” - ông Hiển giải thích. “Vậy còn thư sinh?”. Bàn tay xù xì vuốt nhẹ mái tóc điểm bạc, vị “thiết bút” khiêm nhường: “Sự học còn dài lắm, cả đời tôi vẫn cần đi học”.

Sân chùa Cổ Pháp (Từ Sơn, Bắc Ninh) mới qua Tết Đoan ngọ, thiết bút thư sinh đang gấp rút hoàn thiện những nét khắc cuối cùng trên quả chuông nặng cỡ nửa tấn. Áp mình vào thân chuông, ông dồn lực vào từng động tác gõ búa chuẩn xác. Sau mỗi nhịp búa điêu luyện, những mẩu phoi đồng vàng óng nhỏ li ti bung ra. Mũi dao sắc trên tay ông di động uyển chuyển: Lướt từng nét ngọt xớt trên lớp bề mặt đồng rắn chắc, lộ ra từng nét thư pháp, khi thì rắn rỏi như cây tùng cây bách, lúc lại mềm mại tựa dáng liễu. Từng động tác của ông Hiển thể hiện kỹ thuật dồn hơi, giữ nội lực và “cữ” tay riêng: Tăng - giảm độ búa, đẩy lưỡi dao tạo nét nông - sâu hay rộng - hẹp phù hợp với hình thù của con chữ. Chẳng mấy chốc, một bên mặt của quả chuông được phủ đầy chữ thánh hiền màu đồng vàng óng. Thiết bút thư sinh chia sẻ: “Chỉ lơ đãng đôi chút, người khắc dễ gõ búa quá tay biến nét trường phiệt (nét phẩy), nét trường hoành (ngang dài) thành nét chữ khác; nét thụ điểm (chấm thẳng) dễ lẫn thành nét thùy điểm (chấm rũ xuống)...”. Khi nghỉ tay, ông Hiển dịch nôm nội dung bài ký khắc trên chuông (do sư trụ trì Thích Đàm Dung soạn), có đoạn: “...chùa Cổ Pháp là quê hương của triều Lý, quay ra sông Tiêu Tương, bên trái là miếu Bát Đế muôn đời, xưa sư tổ của chùa đã truyền nhân nghĩa và đạo đức giáo dục Thái Tổ, ban cho người có khí độ đế vương...”.

Vừa ngắm nét khắc sắc lẹm trên mặt chuông, tôi vừa hỏi: Điều khác biệt giữa khắc chữ trên chuông và trên mặt bia đá? Ông Hiển nói: “Về tư thế, thợ khắc đá chủ yếu dùng tay trái cầm đục, tay phải cầm búa. Còn nghề của tôi làm ngược lại: Dùng tay phải cầm dao khắc để “viết” từng nét chữ như khi viết bút lông trên giấy. Về động tác, người thợ đá thường tạc từ 2 bên vào lòng nét chữ. Với khắc chữ trên chuông, tôi tạc thẳng và dứt khoát vào giữa nét chữ”. Ông Hiển luôn giữ nguyên tắc: Nhất khí a thành - một hơi thở phải tạo một nét chữ. Một quả chuông được khắc bao nhiêu chữ? Đôi khi chỉ vài chục chữ, nhưng có khi lên tới 3.000-4.000 chữ. “Như bài ký dài 3.700 chữ của Hứa Tông Đạo - tướng nhà Tống dạt sang VN, môn khách của tướng đời Trần - Trần Nhật Duật - được tôi khắc trên quả chuông ở đền Tam Giang (Bạch Hạc, Việt Trì) cách đây mấy năm” - ông Hiển nhớ lại.

Tâm đắc với câu nói: “Khôn văn tế, dại văn bia”, thiết bút thư sinh giải thích: “Người viết văn tế, dù viết dở hoặc hay, khi tế xong đều đem đi đốt. Nhưng với tấm bia đá hay quả chuông, nét chữ khắc còn lưu lại ngàn đời. Sai, hỏng, đẹp đều được người đời sau thấy cả. Trung thực là yếu tố hàng đầu với công việc của người thợ khắc”. Mỗi ngày, ông khắc tối đa 150-200 chữ là hoa mắt, tay run. Nghề cần đi nhiều nơi và làm việc trong mọi điều kiện. Ông kể: Giáp tết năm 2010, tôi làm việc ở thị trấn Quốc Oai (Hà Nội), trời rét 7-8OC, nhưng vẫn phải áp thân vào quả chuông đồng lạnh buốt. Rồi những trưa hè 38-39OC tại chùa Tu Ba (Thanh Hóa) vừa qua, mái che mong manh giữa sân chùa không giảm được nhiệt nóng của quả chuông, công việc đòi hỏi tôi vẫn phải ép mình vào để khắc chữ...

Bất học vô thuật

Thiết bút thư sinh Nguyễn Đăng Hiển sinh năm 1946 tại Hà Nội. Cha ông là nhà Nho tại làng Vó (Lương Tài, Bắc Ninh) - nơi có nghề đúc đồng nổi tiếng. Ông Hiển lớn lên ở Hà Nội và làm nhiều nghề: Bốc vác, công nhân khảo sát đường thủy, thợ cơ khí tự do... Có lẽ, công việc khắc chữ trên chuông là điểm đỗ cuối cùng. Những năm 1980, với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về thư pháp, ông Nguyễn Đăng Hiển đăng ký học tiếng Trung tại ĐH Ngoại ngữ Hà Nội. Vừa học trên lớp vừa tự nghiên cứu các tài liệu. Cơ duyên đến với nghề khắc chữ thật tình cờ. “Khoảng những năm 1985 - 1986, ông Trang Công Thịnh - thủ từ đền Dâu (Hàng Quạt, Hà Nội) - có nhờ bố vợ tôi chạm vài chữ trên chiếc khánh đồng. Hôm đó cụ đi vắng, tôi thử khắc giúp. Không ngờ sản phẩm được ông Thịnh - người nổi tiếng kỹ tính - khen đẹp và đặt làm thêm”. Nghề chạm khắc đến với ông Hiển âu cũng là sự kết hợp tất yếu giữa vốn kiến thức chữ Hán, sự am hiểu nghề cơ khí và truyền thống đúc đồng của cha ông để lại. Tâm đắc quan điểm: Bất học vô thuật - không học thì không có kiến thức, thiết bút thư sinh rèn luyện lại từ đầu: Tập khắc trên những mảnh đồng những đường nét cơ bản, tập dần cho đến khi nét chữ khắc phải đẹp như nét bút lông trên giấy mới tạm ổn. Ban đầu, ông khắc ở những chiếc khánh, chuông bé, dần dần mới làm thử ở những chiếc chuông lớn hơn. Chuyện mỏi nhừ cánh tay, đôi mắt hay bị mờ, lưng đau ê ẩm là việc bình thường khi làm nghề. Khi rảnh rỗi, ông Hiển ngao du tới các ngôi chùa ở Hà Nội, Bắc Ninh để chiêm ngưỡng các nét khắc trên chuông, khánh; hay tìm hiểu những chữ Hán trên các tấm bia tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội). Ông tự nhủ: Đây là nét chữ của những bậc đại bút mà hậu sinh luôn cần học hỏi...

Đường học là muôn nẻo. Bên cạnh sách vở, người thầy của thiết bút không ai khác, chính là các nhà sư và các bậc cao tuổi nơi thôn quê. Ông kể: Bài minh, bài kệ là những văn tự thường được khắc trên các chuông, khánh với nội dung về lịch sử nhà chùa, công đức của bậc thánh hiền. Tuy nhiên, không hẳn bài nào cũng dễ hiểu ý nghĩa và các điển tích. Các nhà sư trụ trì thường am hiểu kinh kệ chữ Hán và các tích sử. Mỗi khi chưa hiểu rõ, ông đều nhờ và được họ giảng giải thấu đáo.

Bây giờ vị thiết bút đang truyền trao kinh nghiệm kiến thức cho học trò trên tầng 4 của căn gác nhỏ, góc phố Hàng Vải (Hà Nội) cũng là nơi ông ở. Nếu không phải đi xa, lớp dạy thư pháp của ông vẫn sáng đèn 3-4 buổi mỗi tuần. Song trăn trở lớn nhất của ông là chưa tìm được truyền nhân cho những nét khắc trên chuông được tiếp nối khi mà ông phải buông bút vì tuổi già . Ông bảo: “Nhiều người tìm tới tôi để xin học nghề nhưng không thành, bởi phải cần thêm nhiều sự kiên nhẫn, rèn luyện tâm tính”. Và vì thế, ông vẫn đang chờ đợi...

Gần 30 năm qua, thiết bút thư sinh Nguyễn Đăng Hiển đã khắc hơn 4.000 quả chuông, khánh. Quả chuông lớn nhất nặng hơn 1,5 tấn ở chùa Vĩnh Nghiêm (TPHCM), quả chuông có nhiều chữ nhất ở Sóc Sơn, Hà Nội với 4.000 chữ.