Người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động không báo trước

Luật sư Phạm Thị Bích Hảo
Chia sẻ
Ảnh minh họa.

Hỏi: Em đã ký hợp đồng lao động 1 năm với Cty CP Đầu tư Giáo dục từ ngày 1.3.2014-1.3.2015. Nhưng đến 15h ngày 11.7, người quản lý có gọi em đến và chấm dứt hợp đồng mà không báo trước với em. Đến ngày 5.8, em lên để nhận lương thì người quản lý nói rằng em không làm hết trách nhiệm là bàn giao lại công việc, nên em chỉ nhận được lương của 10 ngày làm việc trong tháng 7.

Thưa luật sư, công ty này có vi phạm về luật lao động không?  nga1....@gmail.com

Trả lời:

Thứ nhất: Về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

Câu hỏi bạn nêu không đề cập đến lý do đơn phương chấm dứt HĐLĐ của người sử dụng lao động, tuy nhiên, xem xét về thủ tục đơn phương chấm dứt HĐLĐ là chưa đúng quy định pháp luật lao động.

Thứ hai: Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật

Khoản 1, 2 Điều 42 BLLĐ 2012 quy định:

Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này”.

[QC] Đăng tin tuyển dụng, tìm việc làm nhanh, uy tín tại trang Việc Làm Báo Lao Động.

Bình luận

Vui lòng sử dụng tiếng Việt có dấu

Video xem nhiều nhất

Video: Tấn công mãn nhãn, U23 Việt Nam “hủy diệt” U23 Macau 8 - 1