Bạc Liêu:

Mai một làng rèn Ngan Dừa

THUẬN TÂM
Chia sẻ
Một lò rèn không còn hoạt động.

Nhắc tới địa danh Ngan Dừa, có lẽ nhiều người dân vùng sông nước Nam Bộ không thể quên được nơi đây có một làng nghề gắn bó với cuộc sống của người dân; nhất là bà con ở vùng nông thôn. Đó là làng rèn (LR) Ngan Dừa chuyên sản xuất các loại nông cụ… 

Danh tiếng một thời 

Nghề rèn Ngan Dừa đã có trên trăm năm tuổi, nổi tiếng với nhiều nông cụ (dao, búa, phảng, liềm...). Nhiều thợ rèn kỳ cựu cũng không biết chính xác nghề rèn ở đây đã có khi nào và ai là tổ của nghề. Ông Quách Văn Hây (70 tuổi - ngụ ấp Thống Nhất, thị trấn Ngan Dừa, huyện Hồng Dân) kể: “Tôi cũng như nhiều thợ rèn Ngan Dừa vẫn chưa biết ai là tổ rèn của làng mình. Trước kia chỉ nghe đời ông nội tôi kể lại, nghề rèn hình thành là do trước đây có người phương bắc lưu lạc về đây, sau đó truyền nghề lại cho nhiều lưu dân của miền sông nước Nam Bộ”. 

Để ghi nhớ công ơn người có công truyền nghề, tại mỗi bể lò đều lập một bàn thờ, hàng năm tổ chức cúng tổ vào ngày 23.6 (âm lịch). Do không biết rõ ai là tổ của LR, các thợ rèn Ngan Dừa tín ngưỡng một vị thần với mong muốn thần sẽ phù hộ cho các nghệ nhân rèn và gia quyến luôn tai qua nạn khỏi, công việc thuận lợi, gia đình an vui.

Nghề rèn đòi hỏi tính cẩn thận, chịu khó và nhất định khi bắt tay vào việc phải chú tâm. Quy trình rèn phải qua nhiều công đoạn: Chọn lựa nguyên vật liệu, chuẩn bị nhiên liệu đến thổi bể khí, cặp sắt tôi, quai búa đập. Thông thường một lò rèn truyền thống cần từ 4 - 5 người (1 người thổi bể khí, 2 - 3 ngươi quai búa đập). Ngoài thợ chính, tại các bể lò còn có thêm nhiều thợ phụ làm các công việc: Bào, gọt, làm chuôi, tra cán, lau chùi để hoàn thiện sản phẩm… 

Từ những năm 90 của thế kỷ 20 trở về trước, LR Ngan Dừa tận dụng một số thép trong chiến tranh còn lại để rèn nông cụ. Đất đai sản xuất nông nghiệp mở rộng, nhu cầu nông cụ rất lớn. Theo một thợ rèn kỳ cựu, lúc đó lò rèn hoạt động khoảng 20 ngày/tháng, thợ lành nghề gần như không có ngày nghỉ. Mỗi lò rèn bán ra vài chục nông cụ mỗi ngày, lợi nhuận thu về đáng kể. Tuy nhiên, thời đó điều kiện giao thông tại đây rất khó khăn, người ta biết tới LR nhờ truyền miệng. Việc quảng bá sản phẩm cũng trong giới hạn tại địa phương. Ông Nguyễn Văn Ơn (57 tuổi - ngụ ấp Thống Nhất, chủ lò rèn chữ Y) là người có thâm niên trong nghề hơn 40 năm, tay nghề thuộc hàng “lão làng”. Lò rèn của ông là một trong những lò xuất hiện sớm nhất ở xứ này, có thời gian hoạt động lâu nhất và chất lượng sản phẩm… bền bỉ với thời gian. Theo ông Ơn, thời hưng thịnh nghề rèn dao có khoảng 15 lò, tập trung chủ yếu ở thị trấn Ngan Dừa. “Khi đó mỗi ngày tôi rèn được khoảng 40 cây dao, phản; được khách hàng ủng hộ rất đông, làm bao nhiêu bán hết bấy nhiêu”- ông Ơn nhớ lại. 

“Giữ lửa” cho làng nghề

Tuy nhiên, những năm sau này, nhiều nhà máy công nghiệp sản xuất các loại dao bằng chất liệu inox mẫu mã đẹp mắt nên giữa 2 loại dao (sản xuất công nghiệp - sản xuất thủ công) cạnh tranh không ngang sức. Nhiều lò rèn tại Ngang Dừa lần lượt đóng cửa vì sản phẩm làm ra không tìm được thị trường tiêu thụ. Dao Ngan Dừa đã khẳng định được thương hiệu, nhưng quy mô sản xuất chỉ dừng lại ở mức tiểu thủ công nghiệp. Số ít lò rèn còn duy trì sản xuất chỉ hoạt động cầm chừng (khoảng 15 ngày/tháng) do đơn đặt hàng ít dần. Nhiều bếp rèn nguội lạnh, thợ rèn chuyển đổi nghề để tạo sinh kế bền vững hơn… 

Không nản chí, một số hộ cố gắng bắt mối với người quen xa gần để mang dao bỏ mối, không gói gọn chỉ bán trong địa phương. Những chiếc xe máy dắt đầy dao với tiếng rao “Ai mua dao Ngan Dừa không!” xuất hiện tại một số địa phương. Ông Quách Văn Hây tìm mọi cách duy trì nghề rèn truyền thống. Ở tuổi 70, nhưng ông vẫn còn rất tráng kiện. Hơn 4 đời làm nghề với cùng một nguyên tắc bất di bất dịch là “tôn trọng chữ tín”, lò rèn ông Hây vẫn có khách đến đặt hàng. Nhiều khách hàng thân thiết lâu năm vẫn tìm đến đặt rèn thay vì mua sản phẩm gia công sẵn. Lượng khách giảm, ông Hây tìm cách tạo ra những nông cụ phù hợp với nhu cầu của người dân để duy trì lò rèn. “Mình già rồi, sức khỏe đã yếu dần, biết làm nghề gì thay thế, cứ sống như vậy để giữ nghề. Nghề này mình không phụ nó thì chắc chắn nó cũng không bao giờ phụ mình, cứ đỏ lửa là có tiền để sống” - ông Hây bộc bạch.

Ông Hây mong ước có thêm vốn để trang bị máy móc hiện đại giúp việc sản xuất được chuyên nghiệp; đồng thời mở rộng quy mô lò rèn để có thể sản xuất nhiều mặt hàng theo nhu cầu thị trường. Con trai ông Hây đã trở về nối nghiệp cha. Ông kể với đôi mắt ánh lên niềm vui: “Lúc đầu tôi thuyết phục mãi mà nó không nghe, theo bạn bè đi làm công nhân. Nhưng rồi nó dần hiểu ra tâm huyết của tôi với nghề rèn truyền thống, mong muốn nó nối nghiệp để lưu giữ nghề nên đã quay về làm cùng tôi”. 

[QC] Đăng tin tuyển dụng, tìm việc làm nhanh, uy tín tại trang Việc Làm Báo Lao Động.

Bình luận

Vui lòng sử dụng tiếng Việt có dấu

Video xem nhiều nhất

Công nghệ 360: Nhật Bản và Trung Quốc khai thác thành công băng cháy từ đáy biển