Chất lượng nghiên cứu khoa học của vài đại học Việt Nam

LĐO GS Nguyễn Văn Tuấn - Đại học New South Wales, Úc
Chia sẻ

Cũng như bất cứ hoạt động xã hội khác, lượng và chất luôn là vấn đề của nghiên cứu khoa học. Vậy chất lượng nghiên cứu khoa học tại các trường đại học tại Việt Nam hiện đang ra sao? Cùng xem ý kiến phân tích của một người trong cuộc.

Khi đánh giá năng lực khoa học của một cá nhân, một trung tâm nghiên cứu, hay thậm chí một quốc gia, các chuyên gia thường sử dụng số bài báo khoa học công bố trên những tập san khoa học, và số lần trích dẫn những bài báo đó như là 2 thước đo.

Số lượng bài báo phản ảnh “năng suất” nghiên cứu khoa học và mức độ đóng góp vào tri thức toàn cầu. Số lần các công trình khoa học được trích dẫn có thể xem như là một chỉ số về tác động. Có người ví von rằng số lần trích dẫn như là "âm vang" của công trình nghiên cứu.

Mới đây, đã có một phân tích của hai tác giả Phạm Hiệp và Huỳnh Hữu Hiền cho thấy năng suất khoa học (tính trên đầu tiến sĩ) của các đại học Việt Nam rất khác nhau. Kết quả phân tích đó cho ra một kết quả ngạc nhiên là năng suất của 2 đại học Duy Tân và Tôn Đức Thắng là cao hơn so với các đại học khác.

Nhưng số liệu đó chỉ cho 1 năm, và mới xem xét phần lượng, chứ chưa xét đến phần chất. Do đó, trong bài này, chúng tôi thử đánh giá chất lượng khoa học trong một khoảng thời gian dài hơn.

Chất lượng khoa học là một khía cạnh khó định lượng, do các chuyên gia ít khi nào đồng ý một cách làm thống nhất. Cách tốt nhất là đọc mỗi công trình khoa học và các chuyên gia đánh giá. Nhưng điều này không khả thi cho hàng ngàn công trình, và chuyên gia đánh giá thì cũng cảm tính và thường có độ tin cậy thấp.

Do đó, một cách làm tắt là tính tần số trích dẫn trên mỗi bài báo (thuật ngữ trắc lượng khoa học gọi là "citation rate", hay tốc độ trích dẫn, hay chỉ số trích dẫn). Tốc độ trích dẫn trong một khoảng thời gian phản ảnh một phần chất lượng nghiên cứu, hiểu theo nghĩa công trình có chất lượng thường được trích dẫn nhiều sau đó.

Chỉ là "thường" thôi, chứ không phải là qui luật, vì có những công trình tuy ít trích dẫn như vẫn có chất lượng tốt. Trong thực tế cũng có công trình sai được trích dẫn nhiều lần như là cảnh báo, nhưng số này thì rất hiếm và không ảnh hưởng lớn đến bức tranh chung. 

Các cơ quan quản lí khoa học cấp đại học và quốc gia hay dùng chỉ số trích dẫn này để đánh giá chất lượng. Ở mức độ cá nhân, các hội đồng xét duyệt đề bạt cũng hay dùng chỉ số này để bổ sung vào đánh giá hồ sơ xin đề bạt các chức danh khoa bảng. Nói chung, tốc độ trích dẫn có thể dùng như là một thước đo về chất lượng khoa học cho một đại học.

Câu hỏi đặt ra là chất lượng nghiên cứu của các đại học Việt Nam trong thời gian qua khác nhau như thế nào với các đại học trong vùng. Tôi dùng dữ liệu của ISI Web of Science (WoS) từ 2011 đến 2015 (tức gần 5 năm).

Tôi chọn 5 năm là vì kinh nghiệm cá nhân cho thấy thời gian 5 năm là đủ để định hình một công trình khoa học sau khi công bố cho phần lớn các lĩnh vực khoa học. Từ dữ liệu WoS tôi trích ra số bài báo, số trích dẫn, và tính tốc độ trích dẫn. Ngoài ra, WoS còn cung cấp chỉ số H, một thước đo về tác động khoa học.

Kết quả phân tích cho thấy một "bức tranh" ngạc nhiên, vì sự khác biệt khá cao giữa các đại học (xem Biểu đồ 1). Trường có chỉ số trích dẫn trung bình cao nhất là Trường Đại học Tôn Đức Thắng, với mỗi công trình của Trường được trích dẫn 5.38 lần trong 5 năm. Theo sau là hai Đại học Quốc gia (Hà Nội và TPHCM), với chỉ số trích dẫn trung bình là 3.64 lần, và Đại học Cần Thơ (3.46). Các đại học hoặc viện có tốc độ trích dẫn từ 2 đến 3 là Đại học Quốc tế, Viện hàn lâm khoa học và công nghệ (VAST), Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học Bách Khoa TPHCM, và Đại học Nha Trang. Đại học Duy Tân tuy có năng suất cao nhưng tốc độ trích dẫn thấp nhất trong các đại học vừa kể. 

Chất lượng nghiên cứu khoa học của vài đại học Việt Nam  ảnh 1
Biểu đồ 1: Chỉ số trích dẫn của một số đại học Việt Nam trong thời gian 2011-2015. Chú ý các chữ viết tắt: TDTU = Đại học Tôn Đức Thắng; VNU = Đại học quốc gia HN và TPHCM; In Uni = Đại học Quốc tế trong Đại học Quốc gia TPHCM; BKHN = Bách Khoa Hà Nội; BKHCM = Bách Khoa TPHCM. 

Một thông tin đáng ngạc nhiên trong kết quả trên là chỉ số trích dẫn của VAST rất thấp. Trong thời gian 2011-2015, VAST công nhiều bài báo khoa học nhất (gần 1600 bài), tức gần gấp 10 lần số bài củaĐại học Tôn Đức Thắng, nhưng chỉ số H của VAST chỉ 19 (tức có 19 bài với mỗi bài được trích dẫn ít nhất là 19 lần), cao hơn chỉ số H của Đại học Tôn Đức Thắngchỉ 2 điểm! Đại học Cần Thơ công bố chỉ bằng ~1/5 của VAST nhưng chỉ số H của ĐH Cần Thơ là 15 (thấp hơn Đại học Tôn Đức Thắng2 điểm). Giữa 2 đại học bách khoa, thì ĐH Bách Khoa HN (14) có chỉ số H cao hơn ĐH Bách Khoa TPHCM (9) đến 5 điểm!

Các đại học VN so với các đại học đa ngành trong vùng ra sao? Tôi chỉ chọn vài đại học gần gần về số sinh viên và đa ngành, có thể không tiêu biểu vì không am hiểu hết các đại học. Nhưng biểu đồ dưới đây (Biểu đồ 2) so sánh chỉ số trích dẫn của vài đại học Việt Nam với các đại học trong vùng. Kết quả phân tích cho thấy các đại học Úc có chỉ số trích dẫn cao nhất so với các đại học Thái Lan, Mã Lai, Hàn Quốc.

Chất lượng nghiên cứu khoa học của vài đại học Việt Nam  ảnh 2
Biểu đồ 2: Chỉ số trích dẫn của một số đại học Việt Nam và trong vùng Á châu trong thời gian 2011-2015. Chú ý các chữ viết tắt: TDTU = Đại học Tôn Đức Thắng; VNU = Đại học quốc gia HN và TPHCM; UTS = University of Technology Sydney (Úc); Konkuk = Đại học Konkuk (Hàn Quốc); AIT = Viện công nghệ Á châu (Thái Lan); Jeju = Đại học Jeju (Hàn Quốc). 

Tôi cũng so sánh chỉ số H của vài đại học trong vùng Á châu. Đây là số liệu chỉ của năm 2010, và tôi chọn các đại học có tên trong bảng xếp hạng QS 2015 (Biểu đồ 3). Nhưng để đối chiếu, tôi trình bày số liệu của 2 đại học quốc gia VN trong cùng thời gian để biết. Chúng ta biết rằng Đah Quốc gia Singapore (NUS) được xếp hạng 1 trong bảng xếp hạng năm nay, và nhìn vào biểu đồ này cho thấy quả thật NUS có nghiên cứu tác động còn cao hơn cả các đại học hàng đầu của Úc! Không ngạc nhiên khi NUS đứng hạng 1 của Á châu. Còn Đại học Quốc gia của VN thì còn xa quá.

Chất lượng nghiên cứu khoa học của vài đại học Việt Nam  ảnh 3
 Biểu đồ 3: Chỉ số H của một số đại học hàng đầu của Á châu và Úc. SNU = Đại học Quốc gia Seoul (Hàn Quốc); NTU = Đại học Quốc gia Đài Loan; Chula = Đại học Chulalongkorn (Thái Lan); Jiaotong = ĐH Giao Thông Thượng Hải.

Biểu đồ 4 cho thấy số bài báo khoa học chỉ 1 năm (2010) của các đại học Á châu rất cao so với Đại học Quốc gia. Như có thể thấy, Đại học Quốc gia Seoul của Hàn Quốc công bố nhiều nhất bài báo (5513 bài trong năm), đứng đầu bảng về số lượng, nhưng chỉ số H của SNU thì đứng hạng 9!

 

Chất lượng nghiên cứu khoa học của vài đại học Việt Nam  ảnh 4
 Biểu đồ 4: Số bài báo khoa học của một số đại học hàng đầu của Á châu và Úc trong năm 2010. SNU = Đại học Quốc gia Seoul (Hàn Quốc); NTU = Đại học Quốc gia Đài Loan; Chula = Đại học Chulalongkorn (Thái Lan); Jiaotong = ĐH Giao Thông Thượng Hải.

Tóm lại, các kết quả trên đây cho thấy chất lượng nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Tôn Đức Thắng có vẻ cao nhất trong các đại học Việt Nam, và tương đương với các đại học khác trong vùng. Phân tích thêm chi tiết thì các bài được trích dẫn cao là do tự lực, tức do các nhà khoa học của Trường chủ trì, ít hợp tác với trường quốc tế. 

Các đại học lớn như ĐHQG và ĐH Cần Thơ có chỉ số trích dẫn ngang hàng hay cao hơn một vài đại học Mã Lai và Hàn Quốc, nhưng nhìn chung là thấp. Riêng VAST và Đại học bách khoa Hà Nội có chỉ số trích dẫn thấp nhất so với các đại học trong vùng. Cũng cần nói thêm là khoảng 70-80% các công trình của Đại học Quốc gia và VAST là hợp tác với nước ngoài.

Tuy nhiên, những kết quả trên đây chưa hẳn chính xác, vì chưa xem đến chỉ số trích dẫn của từng ngành khoa học. Do các ngành khoa học có "văn hoá trích dẫn" khác nhau (như ngành sinh học có tỉ lệ trích dẫn cao hơn ngành kĩ thuật chẳng hạn) nên so sánh giữa các trường/viện mà chưa tính đến chuyên ngành là chưa thật sự chính xác. Nhưng so sánh giữa các đại học đa ngành và ĐH Tôn Đức Thắng (đại học này không có nhiều công bố về sinh học), thì chỉ số trích dẫn và chỉ số H của trường này là một minh chứng cho thấy trường đại học "trẻ" vẫn có thể vươn cao và xa trong nghiên cứu khoa học.

Bài học từ kết quả phân tích này là các đại học Việt Nam nên tập trung vào nâng cao chất lượng nghiên cứu, đừng chạy theo số lượng. Chạy theo số lượng mà lờ đi chất lượng sẽ chẳng giúp gì cho các đại học và chỉ làm suy giảm uy danh của đất nước trên trường quốc tế.

[QC] Đăng tin tuyển dụng, tìm việc làm nhanh, uy tín tại trang Việc Làm Báo Lao Động.

Bình luận

NAM NGUYEN
TDTU lưu ý: Bài báo được công bố trên tạp chí khoa học quốc tế tức là trình độ của giảng viên cũng ngầm được công nhận. Nếu sinh viên của trường được học bởi các giảng viên đó thì sẽ nâng chất lượng rất nhiều. Hãy nhìn vào tên tác giả bài báo quốc tế của TDTU và giảng viên đang thực tế giảng dạy tại TDTU và tự cho nhận xét nhé TDTU.
Trả lời - -
Không Không Biết
Đọc bài viết của GS.Tuấn và tìm hiểu các công trình nghiên cứu tại đại học Tôn Đức Thắng (TDTU) ta cũng rút ra được một số thông tin sau:
GS. Tuấn chuyên môn về ngành Y, đại học New South Wales, Úc. Hiện GS. Tuấn đang là 1 trong 3 cố vấn cho TDTU.
Các so sánh của GS. Tuấn cũng chỉ mang tính cá nhân, một chiều và chủ quan. Đôi khi so sánh thường khập khiễng vì sếp loại trường đại học cần nhiều tiêu chí khác nhau. Công trình khoa học cũng vậy cần hiểu chuyên sâu về nhiều chuyên ngành, lĩnh vực.
Các nghiên cứu của TDTU liệt kê khá nhiều công trình đứng tên người nước ngoài, liệu có phải thực hiện tại TDTU? Hay cũng do hợp tác thực hiện và thỏa thuận ghi tên để lấy danh?
Khá nhiều các công trình nghiên cứu tại TDTU liên quan đến mô hình hóa và mô phỏng, tính toán là các lĩnh vực không cần nhiều đầu tư về máy móc, thiết bị, phòng thí nghiệm. Đại học đa ngành cần nhiều yếu tố khác.
Trả lời - -
Hung Ngo
TDTU là '' Số 1'' nhưng thực tế cho thấy sinh viên TDTU hiện nay là không thể so sánh với Bách Khoa, Y Khoa, Tỗng Hợp, Kinh tế về kiến thức chuyên môn, tác phong làm việc,...
Trả lời - -
Lê đình thiện
Nông dân phát kiến máy bay---> phạt
Trả lời - -
Tuần
Bài báo nói lên phần nào giá trị thực của nền giáo dục Việt Nam, là một trường non trẻ muốn thay đổi nền giáo dục nước nhà, vượt ra ngoài cái định kiến về giáo dục tuy sản phẩm hiện tại vân chưa bằng các trường top. nhung rõ rành nhìn xa hơn một thời gian nữa thì sẽ có sự chuyển biến tích cực, các bài báo hàng loạt được đăng tải gần đây cho thấy TĐT đã thực sự đầu tư vào mảng nghiên cứu, thu hút được nhiều nhà nghiên cứu về công tác với trường, đây là điều đáng vui cho giáo dục Việt Nam, cần được ửng hộ chứ ko nên nhin theo 1 cái phiên diện
Trả lời - -
Ngô Văn Đức
TDTU là đại học còn trẻ mà phát triển nghiên cứu tốt quá ta ! Các đại học khác của Việt nam nên học hỏi để có tầm nhìn tốt trong khu vực.
Trả lời - -
Trần Văn Chính
Sv TDTU cám ơn bạn vì lời khen. chúng tối rất hãnh diện. :D
Vui lòng sử dụng tiếng Việt có dấu

Video xem nhiều nhất

Nhân chứng Mai Phương khai ký bừa lên văn bản của điều tra viên đưa