Nhiệt điện than ở Đồng bằng sông Cửu Long: Khi người dân thiếu thông tin về dự án

LĐ - 234 TRẦN LƯU
Một góc bãi chứa xỉ than của nhà máy nhiệt điện Duyên Hải.

Các dự án phát triển kinh tế xã hội dù lớn hay nhỏ đều gây ảnh hưởng tới môi trường và đời sống người dân xung quanh, nhưng hầu hết bà con khi được hỏi đều không biết thông tin về dự án. Câu chuyện về những nhà máy nhiệt điện than một lần nữa đã chỉ ra những “lổ hổng” về môi trường khi công tác tham vấn cộng động được thực hiện quá sơ sài…

Công nghệ yếu, môi trường bị đe dọa

Theo nghiêm cứu của trung tâm phát triển sáng tạo xanh (GreenID), phần lớn các nhà máy nhiệt điện than ở Việt Nam hiện đang sử dụng công nghệ lò hơi dưới tới hạn với hiệu suất tương đối thấp so với công nghệ lò hơi siêu tới hạn và cực siêu tới hạn. Hiệu suất thấp đồng nghĩa với lượng khí thải gây ô nhiễm cao hơn.

Có 76,76% số người được phỏng vấn cho biết họ đã phải thay đổi các hoạt động hàng ngày do tình trạng chất lượng không khí thấp như đóng cửa sổ và quét nhà thường xuyên hơn; 77,27% người dân cho rằng nồng độ cao của bụi trong không khí cũng ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tinh thần của họ, điển hình là trẻ em bị bệnh thường xuyên hơn, người lớn tránh đi ra ngoài và tổ chức các hoạt động ngoài trời vào ban ngày.

Bà Hà Thị Hồng Hải - Điều phối viên chương trình nghiên cứu GreenID dẫn số liệu từ Viện nghiên cứu chiến lược, chính sách công nghiệp (Bộ Công Thương trong năm 2010) cho biết: CO2 là loại khí thải chính từ ống khói của các nhà máy nhiệt điện than với tổng lượng phát thải là 72,7 triệu tấn mỗi năm vào năm 2015. Con số này cao hơn 2,6 lần so với khí thải cacbon vào năm 2011, qua đó phản ánh tốc độ tăng trung bình hàng năm là 11% từ năm 2011 đến năm 2015. Phát thải SO2 và NO2 cũng tăng 1,5 lần trong thời gian 5 năm và đạt 50 ngàn tấn trong năm 2015.

Theo Sở TNMT tỉnh Trà Vinh, hoạt động của nhà máy nhiệt điện Duyên Hải 1 đang để lại một lượng phát thải khổng lồ, mỗi ngày sử dụng hơn 12.000 tấn than; lượng tro, xỉ than thải ra hơn 4.500 tấn, tương đương hơn 1,6 triệu tấn xỉ than được thải ra/năm. Ban đầu nhà máy dự kiến sử dụng công nghệ thải xỉ ướt, nhưng sau đó đã chuyển thành thải xỉ khô. Điều này được lãnh đạo BQL dự án nhiệt điện 3 lý giải là do việc thải xỉ ướt, khi xỉ than thải ra không thể tận dụng để tái chế các nguyên liệu: Phụ gia xi măng, phụ gia bên trong, gạch không nung… Nhưng khi được hỏi về kế hoạch xử lý lượng xỉ than này, lãnh đạo ban lại cho biết: Chỉ đang nghiên cứu, chưa có hướng cụ thể?!

Tham vấn kiểu qua loa

Theo các chuyên gia, trong đánh giá tác động môi trường (ĐTM) của nhà máy nhiệt điện Duyên Hải 1 và 3 đã thiếu các điều tra chi tiết hiện trạng hệ sinh thái tự nhiên, tài nguyên sinh vật, đặc biệt nguồn thuỷ sản tự nhiên và thuỷ sản nuôi trồng; Không có những giải pháp cụ thể giảm thiểu tác động lên hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển và nguồn sinh kế của cộng đồng… Trên thực tế, việc vận hành các tổ máy của nhà máy này đã khiến dòng kênh 3/2 ở gần đó bị thiếu nước, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp của người dân.

PGS.TS. Lê Anh Tuấn - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu BĐKH ĐH Cần Thơ cho biết: Tại khu vực xung quanh nhiệt điện Duyên Hải, người dân trong cộng đồng đang bức xúc và lo âu tương lai của gia đình họ. Qua trao đổi với người dân, bà con đều than phiền là họ không được cung cấp các thông tin tác động của nhà máy lên cuộc sống và sinh kế của họ; chỉ có những người bị mất đất là được mời lên họp, nhưng chỉ thông báo mức bồi thường và kế hoạch giải toả.

Đồng quan điểm trên, chuyên gia nghiên cứu độc lập về sinh thái ĐBSCL - Nguyễn Hữu Thiện cho biết thêm: Mặc dù được thực hiện theo quy định hiện hành nhưng quá trình tham vấn là không có ý nghĩa. Nhà đầu tư chỉ gửi văn bản đến UBND và Mặt trận tổ quốc xã. Cộng đồng địa phương không được tham vấn về tác động của nhà máy. Đây là một “lổ hổng” trong tham vấn cộng đồng của hầu hết các dự án có ảnh hưởng đến môi trường chứ không riêng gì nhiệt điện Duyên Hải.

Đơn cử như nhà máy giấy Lee&Man, nhà máy này cũng sử dụng “phương pháp tham vấn cộng đồng” rất sơ sài là dựa vào ý kiến bằng văn bản của UBND và UBMTTQ cấp xã như nói ở trên; và trong báo cáo ĐTM, phương pháp này lại được liệt vào dạng có “độ tin cậy cao”?!.

Các chuyên gia cho rằng: Thực tế hiện nay là sau phê duyệt báo cáo ĐTM, không có động tác nào theo sau để kiểm chứng những dự báo có đúng không và các biện pháp bảo vệ môi trường hứa hẹn trong ĐTM có được thực hiện không, cho đến khi thảm họa môi trường xảy ra mới biết.

Vì vậy, khuyến nghị luật pháp nên bắt buộc tư vấn có trách nhiệm kiểm chứng độ chính xác của cá dự báo và các giả định đưa ra, thông qua việc quan trắc tác động trên thực tế đối với các hệ tự nhiên, kinh tế xã hội, sức khỏe con người, và điều chỉnh ĐTM cũng như các biện pháp giảm thiểu cho phù hợp…

[QC] Đăng tin tuyển dụng, tìm việc làm nhanh, uy tín tại trang Việc Làm Báo Lao Động.

Bình luận

Vui lòng sử dụng tiếng Việt có dấu

Video xem nhiều nhất

Lý giải sức hút kỳ lạ của thần đồng piano gốc Việt Evan Le