Bao giờ mới được ăn rau an toàn?

LĐCT Dương Hà – Mộng Thoa
Các bà nội trợ tin tưởng rau ở siêu thị hơn bởi có nguồn gốc, xuất xứ. Ảnh: D.HÀ

Trung bình mỗi năm có hơn 40.000 người dân ăn phải thức ăn nhiễm độc, hàng chục ca tử vong từ thực phẩm thiếu an toàn. Trong vô vàn những thực phẩm không rõ nguồn gốc, nhiễm bẩn, rau xanh nằm trong  nhóm có nguy cơ nhiễm độc cao nhất.

Báo động đỏ về rau bẩn

Cục An toàn vệ sinh thực phẩm- Bộ Y tế thống kê, giai đoạn từ 2007-2011, trung bình mỗi năm có khoảng 40.000 ca bệnh ăn phải thức ăn nhiễm độc, khoảng 4.800 người phải nhập viện. Điều đáng lo ngại là các loại thực phẩm tươi sống- trong đó có rau, được xem là thực phẩm có nguy cơ cao về mất VSATTP, đặc biệt là các yếu tố sử dụng hóa chất và ô nhiễm vi sinh vật.

Một khảo sát mới nhất của Viện Chính sách chiến lược phát triển NTNN (IPSARD) cho thấy, trong 1.050 mẫu rau cải, rau muống và đậu đỗ được thu thập từ 8 tỉnh, có 538 mẫu rau (chiếm 51%) phát hiện dư lượng thuốc BVTV và kim loại nặng. Dư lượng vượt ngưỡng NO3 chiếm 47% trong số 630 mẫu rau thu được.

Trong khi đó, càng gần đến tết, lượng thực phẩm, rau xanh đổ về các chợ, siêu thị ngày càng nhiều. Tại TPHCM, lượng hàng rau- củ- quả về các chợ đầu mối và bán lẻ đã tăng khoảng 15% so với tháng trước, trong đó hàng Trung Quốc khá nhiều. Tại các chợ đầu mối Thủ Đức, Hóc Môn, Bình Điền, lượng rau- củ- quả xuất xứ Trung Quốc chiếm hơn 10% tổng số hàng hóa nhập về chợ. Bình quân, mỗi chợ đầu mối nhập khoảng 200 tấn hàng Trung Quốc mỗi ngày.

Tại các chợ lẻ, rau- củ của Trung Quốc chiếm khoảng 40%, trái cây chiếm 30%. Số lượng rau- củ- quả Trung Quốc nhập về mỗi ngày lớn như vậy, nhưng khâu kiểm tra giám sát chất lượng mặt hàng này ở các chợ chủ yếu là kiểm tra về hóa đơn, chứng từ, chỉ thi thoảng kiểm tra lấy mẫu một vài loại rau- quả. Bên cạnh đó, hầu hết rau- quả các loại tại các chợ bán lẻ ở Hà Nội cũng như TPHCM đều được nhập từ nhiều nguồn, không bao bì, xuất xứ nên cả người bán lẫn người mua đều không biết được nguồn gốc.

Ngoài nguồn hàng nhập từ Trung Quốc, thì nguồn cung rau xanh trong nước ngành nông nghiệp cũng quản lý không xuể, bởi đó chủ yếu là các nông hộ nhỏ lẻ, sản xuất manh mún. Từ năm 2000, Chính phủ đã có những chương trình thúc đẩy đầu tiên về phát triển sản xuất rau an toàn (RAT).

Tuy nhiên, Bộ NNPTNT thừa nhận, sau hơn 10 năm triển khai, đến cuối năm 2011, mới có chưa tới 8,5% diện tích đất trồng rau được công nhận là an toàn. Tại miền Bắc, vùng trồng RAT tập trung nhiều ở ngoại thành Hà Nội, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hải Dương… Cùng với đó là các chính sách ưu đãi cho nông hộ về rau sạch, bộ tiêu chuẩn RAT theo mô hình VietGAP cũng được áp dụng, nhưng kết quả chỉ thể hiện ở các quy mô nhỏ.

Thực tế cho thấy, mô hình RAT vẫn còn nhiều bất cập, chưa khả thi và phù hợp với điều kiện các nông hộ nhỏ, trong khi các nông hộ này lại chính là nguồn cung ứng đến 75% lượng rau hàng hóa trên thị trường.

Với nỗ lực cung ứng rau sạch nhiều nhất đến người tiêu dùng, từ năm 2008 đến nay, Bộ NNPTNT giao Cục BVTV lên kế hoạch riêng về chương trình giám sát việc trồng rau nhằm kiểm tra giám sát dư lượng thuốc BVTV trên rau tại một số địa phương trọng điểm về sản xuất và tiêu thụ rau tươi. Kết quả khá giật mình là tỉ lệ mẫu có dư lượng thuốc BVTV vượt ngưỡng tập trung nhiều ở các loại rau ăn lá phổ biến với người tiêu dùng: Rau muống 11%, rau cải 19%, bắp cải 8,3%, đậu đỗ 10%...

Năm 2011, Cục BVTV lấy 1.050 mẫu rau cải, rau muống và đậu đỗ. Kết quả, có 106 mẫu rau (10%) vượt mức dư lượng tối đa cho phép. Rau muống có số mẫu phát hiện mức dư lượng thuốc BVTV và kim loại nặng vượt mức lớn nhất với 70 mẫu. Đậu đỗ có 29 mẫu dư lượng vượt ngưỡng, chiếm 8,3%.

Cục trưởng Nguyễn Xuân Hồng cho biết: “Tỉ lệ mẫu rau có dư lượng thuốc BVTV vượt ngưỡng giảm dần theo các năm, trong đó có rau cải, đậu đỗ. Riêng rau muống vẫn chưa được cải thiện, thậm chí còn tăng lên do trồng rau muống thường nhỏ lẻ, phân tán nên công tác kiểm soát vẫn còn rất khó khăn”.

Tình trạng lạm dụng thuốc BVTV trong trồng rau vẫn thách thức các nhà quản lý.  Ảnh: D.Hà

RAT: Mạnh ai nấy chạy

Hà Nội hiện có khoảng 125ha RAT sản xuất theo VietGAP, tập trung tại khoảng 12 HTX trồng rau khu vực ngoại thành. Không thể phủ nhận những cố gắng của Hà Nội trong việc cung ứng rau sạch cho người dân thủ đô trong vài năm trở lại đây. Đi chợ, siêu thị, các sản phẩm RAT từ Vân Nội, Văn Đức, thậm chí các loại rau sạch đặc sản từ Đà Lạt có mặt nhiều hơn trên kệ hàng.

Chị Hoa - người mua RAT tại siêu thị Minh Hoa - cho biết: “Những sản phẩm rau sạch ở đây khá phong phú, bao bì nhãn mác đầy đủ, nhìn bắt mắt, sạch sẽ, giá đắt hơn không đáng kể so với ở chợ nên tôi chuyển sang sử dụng rau ở đây cho yên tâm”. Đây cũng là tâm lý chung của hầu hết các bà nội trợ, đặc biệt là các gia đình có con nhỏ.

Ngoài những địa chỉ rau sạch quen thuộc Vân Nội, Vân Canh, Văn Đức…, hiện một số cửa hàng RAT, siêu thị Hà Nội cũng nhập nhiều sản phẩm rau của một số DN tư nhân cung ứng rau từ mô hình VietGAP, sản xuất rau hữu cơ, giá thể như Hương Cảnh, Organic Root, Mr. Sạch, Nông nghiệp đô thị… Tuy nhiên, các DN này thừa nhận, việc tồn tại và cạnh tranh với các loại rau tràn lan ở chợ vẫn là bài toán khó bởi chi phí sản xuất RAT không hề thấp, trong khi đó giá bán rau phải cạnh tranh được với giá ở chợ (cùng lắm chỉ chênh từ 1.000 – 3.000đ/kg rau).

Tại TPHCM, rau theo tiêu chuẩn VietGap đã xuất hiện từ lâu, nhưng vẫn chưa được tiêu thụ mạnh tại các chợ do giá cao. Hiện lượng RAT, rau theo tiêu chuẩn VietGap mới chiếm khoảng 10-15% nhu cầu tiêu thụ của người dân TP.

Chính quy mô trồng trọt manh mún, phân tán khiến người sản xuất phải gánh chi phí lớn cho một dây chuyền sản xuất rau sạch. Theo khảo sát của IPSARD, nhiều mô hình RAT sau khi có chứng nhận VietGAP, qua một năm thực hiện đã không còn thiết tha làm bởi chi phí quá cao: 25 triệu đồng để làm gia hạn chứng nhận cho 2ha và khi hết thời hạn thì giá làm lại chứng nhận là 45 triệu đồng.

Ông Nguyễn Văn Tạo - trưởng nhóm sản xuất rau VietGAP ở Hoài Đức (Hà Nội) - cho hay: “Chúng tôi đã mang rau VietGAP đến BigC, nhưng được trả lời là họ không mua rau VietGAP. Các Cty đặt hàng rau mỗi ngày chỉ được 10kg, lại yêu cầu bao gói, sơ chế, nhãn mác…”.

Trường hợp điển hình trên đã cho thấy thực tế khá buồn của thị trường RAT trong nước, khi mà nông hộ nhỏ lẻ không đủ sức gánh chi phí, loay hoay tự tìm thị trường và mạnh ai nấy chạy. Ngành nông nghiệp luôn tự hào về các quy chuẩn kỹ thuật của VN đang dần hài hòa với quốc tế, song ít khi nhìn lại rằng liệu các quy chuẩn này có phù hợp với điều kiện của VN hay chưa. Giải pháp được xem là cứu đỡ cho RAT chính là Luật An toàn thực phẩm vừa được thông qua, theo đó quy định về điều kiện sản xuất, sơ chế, kinh doanh phân phối sản phẩm rau, quy trình chứng nhận…

Thế nhưng, các nhà quản lý lại quên rằng 85% tác nhân sản xuất nông nghiệp của VN là các hộ sản xuất quy mô nhỏ. Quy mô sản xuất của họ được tính bằng sào và diện tích trung bình trồng rau ở Đồng bằng sông Hồng chỉ là 2 sào/hộ.

[QC] Đăng tin tuyển dụng, tìm việc làm nhanh, uy tín tại trang Việc Làm Báo Lao Động.

Bình luận

Vui lòng sử dụng tiếng Việt có dấu

Video xem nhiều nhất


Thêm 2 khách hàng Vietcombank bị “hack” tiền trong tài khoản

Xem tại đây

Khi vụ việc chị Na Hương - khách hàng Vietcombank - mất 500 triệu đồng trong tài khoản cho đến nay vẫn chưa có kết luận cuối cùng của cơ quan điều tra thì thời gian qua Báo Lao Động nhận được đơn thư từ bạn đọc thêm hai vụ việc khách hàng dùng thẻ Vietcombank bị lấy mất tiền một cách khó hiểu. Chỉ sau 1 đêm, anh Vũ Thành Phương (TPHCM) bị mất 20 triệu đồng tại khách sạn ở Tokyo (Nhật Bản), chị Lê Thị Quỳnh Nga mất 10 triệu đồng tại Singapore.

Sáng ngày 22.8, trao đổi với PV Báo Lao Động về nguyên nhân của vụ việc, ông Đào Minh Tuấn - Phó Tổng Giám đốc Vietcombank cho biết: “Ngày 16.8, phát sinh 5 giao dịch tại khách sạn resort ở bên Nhật, tổng giao dịch khoảng 17 triệu đồng.

Đây là những giao dịch thương mại điện tử mua book phòng trên mạng, bản chất trường hợp này không giống trường hợp khách hàng Na Hương. Trước đó khách hàng Vũ Thành Phương đã có giao dịch ở Anh, nhiều khả năng khách hàng đã bị lấy mất thông tin, số thẻ, CVV một cách tình cờ nhưng chưa biết lúc nào.

Ngay sau khi khách hàng thông báo sự việc, chúng tôi đã liên hệ với ngân hàng ở Nhật, nơi quản lý các đơn vị chấp nhận thẻ ở khách sạn để cố gắng khoanh giữ tiền lại và không cho sử dụng dịch vụ nữa. Chúng tôi một mặt tìm nguyên nhân cho khách, mặt khác, là ngân hàng phát hành thẻ, Vietcombank trước mắt sẽ tạm ứng trả lại tiền cho khách hàng. Sau đó nếu điều tra ra, nếu lỗi nguyên nhân từ phía khách hàng hoặc ngân hàng bên Nhật thì sẽ thu hồi số tiền đó để trả lại cho Vietcombank”.

Trả lời câu hỏi của PV liệu Vietcombank có phối hợp với công an để giải quyết vấn đề này không, ông Tuấn nói: “Hiện nay, tình trạng tội phạm thương mại điện tử ngày càng phổ biến, chúng tôi có thể sẽ nhờ cả công an để kết hợp”.

26 tỷ đồng trong tài khoản biến mất, ngân hàng thoái thác trách nhiệm

Xem tại đây

Công ty TNHH MTV Đầu tư và Phát triển Quang Huân (trụ sở ở Củ Chi, chuyên mua bán nông sản) mở tài khoản tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) từ cuối tháng 3-2015. Trong mùa mua bán nông sản, khách hàng thanh toán tiền hàng vào tài khoản này ước tính khoảng 26 tỷ đồng.

Cuối vụ, khoảng tháng 7, bà Trần Thị Thanh Xuân, Giám đốc Công ty Quang Huân, đến rút tiền thì tá hỏa bởi 26 tỷ đồng trong tài khoản đã biến mất, chỉ còn lại vài trăm ngàn đồng đủ “giữ” tài khoản. Bà muốn kiểm tra tài khoản thì nhân viên ngân hàng yêu cầu bà làm thủ tục đổi chữ ký, vì cho rằng chữ ký của bà không giống như chữ ký đã giao dịch trước đây!

Nhìn sao kê tài khoản, bà càng ngạc nhiên hơn nữa là trong lúc bà chạy đôn chạy đáo mua bán ở kho thì tài khoản của bà giao dịch “rút, chuyển” liên tục từ số tiền khách thanh toán chuyển vào tài khoản của mình. Việc ký séc, chi séc diễn ra liên tục, trong khi bà chưa hề mua séc lần nào. Hóa ra, trong bản sao kê ghi rõ, người mua séc của công ty bà chính là nhân viên Ngân hàng VPBank Đoàn Thị Thúy Hằng và người rút séc là chồng bà Hằng, tên Nguyễn Huy Nhựt, cùng 2 người bạn tên Đỗ Đình Bảo, Phạm Văn Trinh.

Trong thời gian ngắn, cứ số tiền khách chuyển vào tài khoản bao nhiêu thì Nhựt, Bảo, Trinh dùng séc (do chính nhân viên ngân hàng Đoàn Thị Thúy Hằng mua) để rút tiền mặt hoặc chuyển vào Công ty Thanh Tâm do vợ Phạm Văn Trinh đứng tên.

Điều đáng nói là ngay khi tạo tài khoản, bà Trần Thị Thanh Xuân có đăng ký thông báo giao dịch Mobile banking vào số điện thoại cá nhân bà. Trong sao kê tài khoản cũng thể hiện ngân hàng thu phí Mobile banking đầy đủ, nhưng bà không hề nhận được bất kỳ tin nhắn nào về các giao dịch trên.

Bắt giữ, tiêu hủy 5 tấn thuốc bảo vệ thực vật nhập lậu

Xem tại đây

Ngày 24.8.2016, Cục Bảo vệ thực vật (BVTV) tổ chức tiêu hủy 5/7 tấn thuốc BVTV nhập lậu bị thu giữ từ đầu năm đến nay.

Theo ông Hoàng Trung – Cục trưởng Cục BVTV (Bộ NNPTNT), Thanh tra Cục BVTV đã chủ trì phối hợp với cơ quan công an (C49, A86), Thanh tra  Bộ NNPTNT qua thanh tra, kiểm tra đột xuất các cơ sở sản xuất, buôn bán thuốc BVTV, kiểm tra việc sử dụng thuốc BVTV tại các tỉnh, TPHCM, Hà Nội, Đồng Tháp, Tiền Giang, Hòa Bình và Hưng Yên, đoàn kiểm tra đã phát hiện và xử lý 1 vụ buôn bán thuốc BVTV nhập lậu, ngoài danh mục tại Hòa Bình, thu giữ 1.263 chai/ gói với trọng lượng 200kg. Triệt phá đường dây sản xuất, buôn bán thuốc BVTV giả liên tỉnh tại TP.Long Xuyên (tỉnh An Giang). Bước đầu thu giữ thuốc bảo vệ thực vật giả và các phương tiện sản xuất bao gồm:  2378 chai/gói thuốc BVTV; 1.143 và 416 kg vỏ thùng; máy ép nhựa; máy pha trộn và nhiều tem nhãn thuốc các loại. Đến nay đã khởi tố vụ án và các bị can để điều tra xử lý theo quy định pháp luật.

Được biết, trong số 7 tấn thuốc BVTV bị thu giữ đều là thuốc BVTV ngoài danh mục với hơn 25 loại bao gồm các nhóm: Thuốc trừ sâu/nhện; thuốc trừ bệnh; thuốc kích thích sinh trưởng; thuốc trừ cỏ.

Ngành công nghiệp tái chế có thể tạo ra hơn 1.000 tỉ USD

Xem tại đây

Nhu cầu sử dụng nguyên liệu phế thải cho ngành công nghiệp tái chế tại Việt Nam gia tăng từ 10-20%/năm. Nếu hình thành được chuỗi cung ứng tuần hoàn (tái chế, tái sử dụng, tái sản xuất) trên toàn cầu có thể tạo ra hơn 1.000 tỉ USD vào năm 2025. Bởi lẽ, tối ưu hóa được các nguồn lực và giảm lượng chất thải cần phải được xử lý thông qua việc chôn lấp.

Từ trước đến nay, phương pháp quản lý rác thải truyền thống thường tìm cách giảm thiểu các chi phí thu gom và xả thải - tức là chôn lấp thay vì tái chế hay thiêu hủy rác. Nhưng trong một nền kinh tế tuần hoàn, mục tiêu là tối đa hóa giá trị tại mỗi giai đoạn trong vòng đời của một sản phẩm. Theo PGS.TS Huỳnh Trung Hải - Trưởng phòng KHCN, Đại học Bách Khoa Hà Nội: “Để biến việc tái chế trở thành cơ hội phát triển trong giai đoạn mới, điều quan trọng nhất là phải thay đổi tư duy, quan điểm về chất thải và tái chế chất thải; phải coi chất thải là tài nguyên và coi quản lý chất thải là quản lý tài nguyên”.

Nguồn cung và cầu nhà phố, biệt thự đang rất lớn

Xem tại đây

So với cùng kỳ năm trước, số căn bán ra ở phân khúc nhà phố/biệt thự đã tăng 110%. Nhà phố với diện tích nhỏ đang là đối thủ mạnh, cạnh tranh với căn hộ chung cư. Theo công bố của Savills Việt Nam, có 820 căn nhà phố/biệt thự được bán ra trong quý II/2016, tăng 81% so với quý trước và tăng 110% so với cùng kỳ năm ngoái. Savills nhận định: "Phân khúc này đã đạt đến thời điểm chín muồi và hiện tại có một nguồn cung vô cùng lớn".

Trong giai đoạn 2016-2020, số lượng hộ gia đình Việt Nam khá giả với thu nhập hơn 20 ngàn USD được dự báo sẽ tăng từ 250.000 lên 530.000 hộ. Nền tảng thu nhập ổn định của người mua sẽ thúc đẩy thị trường biệt thự/nhà phố. Trong vòng 5 năm tới, sẽ có 280.000 hộ gia đình ra khỏi tầng lớp trung lưu để gia nhập tầng lớp khá giả. Đây là phân khúc độc lập có sức mua đáng kể.  


Kinh tế 24h: Thêm 2 khách của Vietcombank bị hack tiền; khách của VPBank bị mất 26 tỉ