Chuyện cũ về ông lão nuôi dê

Làng Sơn Thuỷ quê tôi nằm dưới chân núi Nầm, ngọn núi chạy dài giống như con Rồng xanh đang ngủ. Núi chứa bao nhiêu cây cỏ, thung sâu và hang động thích ứng với nghề nuôi dê núi. Thuở lên chín, lên mười, tôi lẽo đẽo  theo cha đi chợ  Gôi, trông lên núi Nầm đã thấy ngay đàn dê của ông Nuôi Thêm đang gặm lộc nõn từ những bụi cây dại. Chúng vừa ăn vừa chạy, dường như sợ ai cướp mất. Với cái miệng hay kêu inh ỏi lại không xơi những lá già, tính tình hiếu thắng, chăn vất vả nên không mấy người thích nuôi dê.

Một số gia đình nuôi được một thời gian, nhưng không chiều chuộng và chăm sóc nổi đành  bỏ nghề. Chỉ có ông Nuôi Thêm là “nhân tố điển hình” đáng được tôn vinh trong “lịch sử nuôi dê” huyện Hương Sơn thời dân “đi chân đất, quần áo sồi nhuộm nâu”.

Ông Nuôi Thêm, bạn thân của bố tôi nên tôi càng nhớ. Thuở đó ngày ông  lên núi Nầm chăn dê, nhưng đêm tối “hội tổ tôm” vẫn cuốn hút ông tới khuya. Đó là ông già có bộ râu dài, tóc và râu đều trắng muốt, nước da đỏ au, rất thích đùa với trẻ con. Có lẽ vì sự  gần gũi này giúp tôi hiểu thêm con dê với người chăm sóc nó.

Vào những năm thập kỷ bảy mươi, tám mươi của thế kỷ trước, cứ đến mùa giáp hạt làng tôi nhiều người đói ăn đứt bữa. Nhưng gia đình ông Nuôi Thêm thì vẫn thừa thóc thừa gạo cho vay. Cổ nhân bảo “Gia bần dưỡng dê” (nhà nghèo nuôi dê) nhưng đối với ông Nuôi Thêm lại lấy nghề nuôi dê làm đòn bẩy phát triển kinh tế...

Xuất phát từ hai bàn tay trắng, buổi đầu vợ ông làm nghề buôn mật, về sau dựng túp lều tạm ở đường quốc lộ 8 sát cầu Nầm, bán rượu nếp và kẹo cu đơ. Những năm đất nước chiến tranh, đồng tiền quá khan hiếm, nên phải dành từng hào bạc lẻ tích thành đồng. Từ khoản tiền tiết kiệm hơn một năm trời, gia đình ông Nuôi Thêm có khoản tiền 30 đồng bạc và mua được bốn con dê một lúc.

Ông vẫn thường hay kể cho bố tôi nghe, gã bán dê chợ Bè hôm đó dặn ông “Cụ cố làm chuồng cho chắc chắn, đừng đánh nó nhiều. Dê thích tự do nên cụ cứ cho ăn thoải mái trên núi, nó luôn nhớ đường về”.

Chiếc chuồng dê làm  bằng gỗ xoan đã được bố con ông đục đẽo và thiết  kế trông vừa “bắt mắt” vừa tạo ra được không gian thoáng. Tuy vậy, buổi đầu còn non nớt về kinh nghiệm “quản lý” nên hai cặp dê ông mua về đã  “quậy” cho cả nhà mất ăn mất ngủ. Một  lần trong đụn rơm phát hiện thấy hai con mèo đang thả lời “tỏ tình” và “mơn trớn” nhau. Thế là một “gã dê” trong chuồng  tự nhiên kêu rống lên như đang có ai cầm dao chọc cổ nó.

Lại một lần khác trong lúc cả gia đình ông Nuôi Thêm đang ngồi ăn cơm trưa thì hai con dê đực “sổng chuồng” ra “vặt trụi” cả hai giàn trầu nhà ông ngay trước sân. Sau hai lần vi phạm về “phá hoại kinh tế và trật tự an ninh” gia đình, ông Nuôi  Thêm đã dịch chuyển chuồng dê ra cách nhà hơn 100 mét, bốn phía chuồng che phên nứa. Cửa chuồng có thêm chiếc khoá sắt. Kể từ hôm đó trở đi công việc nuôi dê của ông bắt đầu thuận lợi.

Buổi sáng, lùa dê lên núi, chiều tắt mặt trời ông lùa dê về chuồng. Nhờ có nghề nuôi dê bằng chăn thả trên núi đã giúp ông biết thêm nhiều  động, thực vật phong phú trên ngọn núi Nầm. Ông Nuôi Thêm bảo: “Núi Nầm có tới hàng chục hang đá, không sâu và rộng nhưng mỗi hang cũng đủ cho vài chục con dê buổi trưa nắng chui vào ngủ. Hang nào dê thường trú ngụ, hang ấy loài rắn rết cũng tìm cách sang chỗ khác”.

Hàng chục năm trong nghề nuôi, ông cũng thấm thía một điều thú vị, dê không bao giờ sợ rắn cắn và chết vì rắn độc, cũng chẳng lúc nào lạc đàn. Dê là động vật đoàn kết và sinh hoạt thuộc loại nề nếp nhất. Ăn theo đàn, ngủ theo đàn và cả chuyện hôn phối với “bạn tình” dê cũng hồn nhiên không hề giấu giếm. Thế nhưng theo ông Nuôi Thêm muốn dê có sức khoẻ và sinh sản tốt phải biết ba điều kiêng: Kiêng tắm cho dê, dầu người dê luôn có mùi khét, kiêng thức ăn ngấm nước mưa, kiêng chăn thả dê ở những vùng núi rừng có sên vắt. Gia đình ông đã có năm thất thu vì một số con bị chết bởi những lý do này.

Nhưng thời ấy nghề chăn nuôi dê ở làng tôi và cả huyện Hương Sơn này ông là người được hưởng nguồn lợi chăn nuôi dê khá nhất. Chuồng dê nhà ông lúc nào cũng có 30 con trở lên, năm nhiều nhất hơn 50 con. Dê đưa lên chợ Phố hay xuống chợ Gôi, bán con nào là khách hàng mua hết vèo con ấy. Ruộng hợp tác xã thời ấy làm quần quật cả vụ không nổi dăm yến thóc. Tiền đong gạo, tiền sinh hoạt gia đình, con cái ăn học đều nhờ vào sự mát tay nuôi dê của ông.

Sau khi ông Nuôi Thêm qua đời, anh Hải, người con trai của ông từ chiến trường trở về quê, lại kế tiếp nghề nuôi dê của ông. Thời cơ chế thị trường, anh Hải không chỉ dừng lại công việc chăn nuôi mà còn biết tạo “liên doanh, liên kết” với các chủ hộ chăn nuôi. Anh mở quán phở thịt dê ngay tại Nầm. Anh Hải vốn là người thích làm thơ và cũng người rất có duyên tuyên truyền về món ăn dê núi Hương Sơn. Khách lạ, khách quen đi qua về lại, thường lui tới quán anh ăn thịt dê. Tiện thể có người còn mua cả vú dê, chân dê… về ninh nồi áp suất để tẩm bổ cho vợ trong thời kỳ sinh đẻ.

Cả huyện nuôi dê

Sau những chuyến đi thực tế khảo sát về tình hình xây dựng nông thôn mới từ cơ sở về, Bí thư Huyện uỷ Nguyễn Xuân Thọ tâm sự với tôi: “Trong các tiêu chí thì tiêu chí về chăn nuôi nhiều xã ở Hương Sơn quan tâm nhất. Nông dân họ không chỉ nuôi hươu, lợn mà còn nuôi dê nữa”. Anh Thọ bảo: “Nếu so với các con vật khác dê khó nuôi hơn nhiều. Nhưng nuôi dê không lo ế bởi dê lúc nào cũng bán được. Vả lại nuôi dê vốn ít, dân nghèo được ngân hàng chính sách xã hội và huyện khuyến khích hỗ trợ họ thấy an tâm hơn”.

Theo thống kê của Phòng Nông nghiệp huyện Hương Sơn đến năm 2013 này với 32 xã, thị trấn có tới 2/3 số xã có các gia đình nuôi dê.  Hộ nuôi ít từ 2-4 con, hộ nuôi nhiều từ 20-30 con. Tổng số đàn dê của huyện hơn 1.500 con, riêng xã Sơn Tiến chiếm hơn 900 con.

Tôi tìm đến xã Sơn Tiến, một xã giáp ranh huyện Thanh Chương. Vào làng nào, xóm nào cũng nghe tiếng dê kêu. Anh Nguyễn Duy Mạnh Chủ tịch Hội Nông dân xã vui vẻ nói: “Tiếng dê là nét đặc trưng xã này. Từ xưa tới nay Sơn Tiến vốn là xã nghèo, nhưng may có cái nghề nuôi dê nên các gia đình ngoài sản xuất lúa còn có thêm thu nhập”. Tôi rong ruổi theo anh Mạnh lên tận đập nước Khe Cò để tận mắt thấy hình ảnh những đàn dê đang tung tăng đùa giỡn bên hồ nước bao la, núi đồi trùng điệp.

Khi tiếp cận với ba ông chủ nuôi dê đang chụm bên nhau hút thuốc lào, anh Mạnh giới thiệu với tôi: “Đây là bác Lê Đức Phúc, người nuôi dê có kinh nghiệm và có hơn 40 con ”. Bác Phúc xua tay, xởi lởi bảo: “Tui chẳng có kinh nghiệm gì ghê gớm đâu, chẳng qua là kiên trì. Nuôi dê mà tính tình nóng nảy thì không nuôi được đâu. Nó đau bụng mà mình không biết cách chữa là chết cả đàn đấy. Dê ít bị dịch như trâu, bò, lợn, gà, nhưng hay đau bụng đột xuất. Gia đình tui cũng có lúc dê bị đau bụng rồi, nên tui rất chú ý chăm sóc dê lúc về chuồng. Thỉnh thoảng cho dê ăn thêm chanh, thêm khế chua để làm thông thoáng đường ruột nó”.

Nói đoạn ông Phúc chỉ cho tôi xem đàn dê của ông trước mặt. Khi tôi đến gần một con dê đực có bộ râu dài cắp vào với cặp sừng nhọn hoắt chìa ra trong vừa ngộ nghĩnh vừa hung dữ. Ông Phúc tiết lộ cho tôi hay: “Cụ dê này khoẻ lắm. Sinh hoạt với mấy ả dê xong, cụ chẳng thấy choáng đầu, run chân... gì cả. Sáng mai tui lùa vô rú cụ chạy trước tiên”.

Thời buổi nuôi dê hiện đại, ông chủ nào cũng muốn dê cái mình chăn dắt sinh sản nhanh và con to, con khoẻ... nhờ thế ông Phúc ngoài bán dê cho khách còn có thêm dịch vụ “nhân giống” tổng đàn cho các gia đình trong xã. Tiền dịch vụ phối giống mỗi con  40-50 ngàn đồng. Gia đình nào kinh tế còn quá eo hẹp, ông Phúc “miễn phí” luôn. Dân xã Sơn Tiến có ý thức cộng đồng rất lớn. Sự san sẻ và cảm thông cùng nhau càng làm cho nghề dê Sơn Tiến không bị mai một.

Một điều tôi vỡ lẽ ra, chính điều kiện địa hình nhiều đồi núi, cây cối sạch và có hang động như Sơn Tiến là điều kiện thuận lợi cơ bản trong nghề nuôi dê núi... Một số hộ gia đình do neo người và bận với công việc đồng áng thì họ nuôi dê nhốt. Tuy nuôi nhốt nhưng họ vẫn cố vào rừng chặt đủ lá cây dê ưa thích. Ngoài ra họ trồng cỏ, trồng mít để dành thức ăn cho dê.

Món ăn dê núi


Khách bình dân hay những người có thu nhập cao đến huyện Hương Sơn đều thích ăn thịt  dê núi. Chính sở thích này đã khuyến khích phong trào nuôi dê Hương Sơn phát triển  mạnh. Nuôi dê đã tạo ra ba lợi ích: Lợi ích người chăn nuôi, lợi ích dịch vụ nhà hàng và lợi ích khách hàng.

Tôi cũng là người rất khoái thịt dê, bởi thịt dê không những ngon, mát, bổ mà còn là thực phẩm sạch. Mỗi lần về quê đưa các con thưởng thức ở quán Quý Sâm (Sơn Hà) hay rẽ vào quán dê cạnh cầu treo Nầm bao giờ cũng thấy khách đến nườm nượp, nhất là mùa hè các nhà hàng thịt dê từ phố Châu đến Sơn Hoà đâu đâu xe máy, xe con đậu đặc sân.

Một anh bạn của tôi từ Hà Nội về, khi ngồi  quán thịt dê cùng bạn hữu, chẳng biết có quá lời không, bảo: “Mình đã ăn nhiều nơi trong nước có, ngoài nước có nhưng chẳng đâu mình thích bằng món dê núi Hương Sơn”.