Góc nhìn Bát quái

Nguyễn Trãi - thời vận đã báo trước

LĐCT - 36 Xuân Cang

Bài số báo trước tôi đã linh cảm khám phá ra số phận thi hào Nguyễn Trãi (1380 - 1442) mang tên quẻ Dịch là Thiên Sơn Độn, nguyên đường hào 3.

Quẻ Độn là tiền vận của ông kéo dài suốt 48 năm, từ 1380 đến 1428. Có nghĩa vào năm 1416 từ “góc thành Nam” lặn lội đi tìm nghĩa quân Lê Lợi ở Lam Sơn với “Bình Ngô sách” (nay không còn văn bản), cho đến khi Lê Lợi chiếm lại Đông Quan (1428), Nguyễn Trãi vẫn còn trong thời vận Thiên Sơn Độn. Đúng là như thế, những áng văn nổi tiếng nhất của ông, từ “Quân trung từ mệnh tập”, những bức thư gửi cho tướng lĩnh giặc, đỉnh cao của văn học luận chiến ngoại giao, đến “Bình Ngô đại cáo”, thiên cổ hùng văn, đều là nhân danh Lê Lợi, thay vì Lê Lợi, theo cách nói của Dịch học là “độn” phía sau Bình Định Vương. Huyền diệu thay các tác phẩm thời Độn của Nguyễn Trãi. Vậy hậu vận của ông, sau 1428 là gì? Theo công thức Hà Lạc, nếu tiền vận của chủ thể là Thiên Sơn Độn, nguyên đường (chủ mệnh) hào 3 thì hậu vận là Địa Thiên Thái chủ mệnh hào 6. Thái là hanh thông, yêu thích, hòa thuận. Tượng quẻ là Trời Đất âm dương giao nhau mà biến hoá. Địa Thiên Thái nói lên một thời đất trời giao cảm, vừa thịnh vừa thái, hanh thông như mùa xuân, vạn vật phát triển, không gì đẹp bằng. Nhưng luật trời đã định, trong âm có dương, trong dương có âm, cái thịnh đến cực điểm thì cái loạn sẽ sinh, quẻ Thái tốt bao nhiêu thì đến vận hạn cuối cùng của nó, tức hào 6 cái gì sẽ xảy ra? Thành đổ sụp xuống, lại chỉ là đống đất. Đừng dùng quân nữa, nhiều lắm mệnh lệnh chỉ ban ra được trong ấp mình mà thôi. Hành động dù chính đáng, nhưng vẫn thất bại mà xấu hổ. (Lời hào 6, mở đầu bằng 4 chữ “thành phục vu hoàng”, hoàng là đất xây thành, thành đổ chỉ còn đất). Luật trời ghê gớm thế. Như vậy là Dịch đã cảnh báo cuộc đời văn hào cuối cùng sụp đổ thành đống đất, hành động dù chính đáng, nhưng vẫn thất bại mà xấu hổ. Nguyễn Trãi có cảm nhận được số phận mình hay không? Không biết. Chỉ biết rằng “đồ thư một quyển” bên án (bàn đọc sách), bên song đi với ông cho đến phút cuối cùng cuộc đời với thảm án Lệ Chi Viên. Riêng trong “Quốc âm thi tập” (mất mát rất nhiều) ngày nay chúng ta còn được đọc 61 bài thơ “Bảo kính cảnh giới” (Gương báu răn đe), có rất nhiều bài cảm nhận cái số phận từ thịnh đến suy, từ trị đến loạn, từ thái đến bĩ, khuyên đời khuyên mình. “Này lời nhắn bảo khách bàng quan/ Khôn phải lo lường, dại được an/ Nọ kẻ tranh hùng nên Hán tướng/ Kìa ai từ tước ẩn Thương san/ Già trui thép cho nên mẻ/ Bể nồi hương bởi ngã bàn/ Khuyên kẻ trượng phu sinh ở thế/ Hễ đường bất nghĩa chớ loàn đan”. (Bảo kính 58). (Có một lời nhắn những người còn xem thường thế sự: khôn phải lo có kẻ lường gạt, hãy cứ làm như dại cho an thân. Hãy coi gương Hàn Tín, tướng quân đại tài nhà Hán, tranh hùng cho lắm, cuối cùng chết giữa triều đình. Lại xem bốn vị tài giỏi thời Tần, nhất định từ quan tước, về ở ẩn trên núi Thương San gần 80 năm râu tóc đều bạc trắng. Có bài hát về bốn vị này: “Xe tứ mã lọng cao, mối lo thật lớn”. Thép tôi già dễ mẻ, bình hương trầm trên cao mà còn đổ. Trượng phu ở đời chớ lạc lõng (loàn đan) vào nơi bất nghĩa!). Một lời cảnh báo đi suốt lịch sử từ Hán đến Việt. Cũng một lời cảnh báo của hào 6 Địa Thiên Thái đối với riêng nhà thơ. Quả nhiên lời cảnh báo trong mệnh nhà thơ đã thành hiện thực. Ngày 27 tháng 7 năm Nhâm Tuất tức ngày 1 tháng 9 năm 1442, vua Lê Thái Tông, sau khi đi duyệt võ ở Chí Linh, vào Côn Sơn thăm Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi có một người vợ lẽ yêu là Nguyễn Thị Lộ, vừa đẹp vừa hay chữ. Thị Lộ từng được vua Thái Tông vời vào triều phong cho chức Lễ nghi học sĩ, giữ việc dạy dỗ cung nhân. Khi Lê Thái Tông đến Côn Sơn thì Thị Lộ đã về đấy thăm Nguyễn Trãi từ trước. Lúc nhà vua rời Côn Sơn thì Thị Lộ được lệnh theo nhà vua về Thăng Long. Ngày mồng 4 tháng 8 năm Nhâm Tuất (7.9.1442) xa giá vua Thái Tông về đến Lệ Chi viên, tục gọi là Trại Vải ở làng Đại Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Nửa đêm hôm ấy, nhà vua bị cảm, và đến sáng thì mất. Khi ấy chỉ một mình Thị Lộ ở bên vua. Thị Lộ cũng như Nguyễn Trãi bị buộc tội là âm mưu với nhau giết vua. Khi mang Thị Lộ ra thẩm vấn, trước sau hình quan chỉ hỏi Thị Lộ có một câu: Có phải mày đã tiến độc cho đức Đại hành Hoàng đế, và cái mưu thí nghịch là do Nguyễn Trãi không? Án đại hình xử tử ba họ một vị khai quốc đại công thần mà các công việc điều tra xét hỏi, quyết án đều làm chớp nhoáng, gói gọn chưa đến 10 ngày. (Theo “Nguyễn Trãi toàn tập” của Đào Duy Anh). Một án oan làm chấn động cả nước, vì không ai tin hai con người ấy có thể giết vua. 22 năm sau (tức 1464) vua Lê Thánh Tông ban hành “Chế tẩy oan”, lòng dân mới tạm yên. Phan Bội Châu 500 năm sau, viết về hào 6 quẻ Thái, có lời bình rằng: Thái vừa cuối cùng, tức khắc ra Bĩ. Ghê gớm thiệt! Làm nên tốn vô số công phu, mà làm hư chỉ trong chốc lát… Than ôi! Thành sao khó thế, bại sao dễ rư? Phúc sao chậm thế, họa sao chóng rư? Những người có trách nhiệm với quốc gia xã hội, há chẳng nên lưu tâm vào chốn ấy hay sao?
Loading...

[QC] Đăng tin tuyển dụng, tìm việc làm nhanh, uy tín tại trang Việc Làm Báo Lao Động.

Bình luận

Vui lòng sử dụng tiếng Việt có dấu

Video xem nhiều nhất

10 công việc cực kỳ hấp dẫn không nên bỏ qua hôm nay 28.9