Ở chốn lao xao

Phân mảng và thang giá trị

LĐCT - 40 NGUYỄN BỈNH QUÂN
Chia sẻ
Tác phẩm “Hà Nội 1972” (sơn dầu) của Nguyễn Trung Tín được trưng bày tại triển lãm.

Tuần này có một triển lãm mỹ thuật “to nhất trong năm” và gây “bão” trên truyền thông cũng như mạng Internet trong nước.

Đó là triển lãm “Mở cửa” bày 50 tác phẩm của 50 tác giả, một “toàn cảnh” thu nhỏ về mỹ thuật giai đoạn 30 năm từ 1986 đến nay do Cục Mỹ thuật Nhiếp ảnh Triển lãm - Bộ VHTT&DL tuyển chọn trưng bày nhằm “tôn vinh” các giá trị nghệ thuật của cuộc sang trang sâu rộng, triệt để nhất của mỹ thuật Việt Nam trong thế kỷ 20. Ba giám tuyển (cuarator) của Cục đảm nhiệm một cách tự tin khi tuyển chọn tác giả, tác phẩm.

Vì danh nghĩa của nhà nước và vì trách nhiệm cá nhân của các giám tuyển nên có nhiều tranh cãi khá căng và cùng với nhiều cảm nhận rất khác nhau: Ai là nghệ sĩ đổi mới thật? Ai có tác động động lực với đổi mới? Tác phẩm như vậy thì sao tiêu biểu được! Giá trị đổi mới của hội họa mười năm đầu hay sự đổi thay của điêu khắc từ năm 2000 hay sự du nhập và bùng phát của contemporary art (các môn mới và các hoạt động mới như sắp đặt, trình diễn, video… cùng các project và art space…) phần nào quan trọng hơn, mới hơn. Hầu hết ai, dù trong hay ngoài nghề cũng thấy theo ý mình thì chỉ 30 - 40% tác giả tác phẩm được chọn là “chính xác”. Phần còn lại hoặc sẽ là “ăn theo đổi mới”, chất lượng kém, không đại diện được cho chính tác giả ấy, giai đoạn ấy. Có một sự đồng thuận duy nhất là: Cơ quan hành chính công khai công nhận, tôn vinh thành tựu thẩm mỹ và nhân văn, văn hóa của mỹ thuật giai đoạn này là thuộc về các “nghệ sĩ độc lập, hành nghề tự do”. Tức không làm nghệ thuật bằng tiền nhà nước cũng như không được xưng danh qua các Hội, Sở, triển lãm phong trào hằng năm, cũng không đến từ các thiết chế nghệ thuật như trường, viện nhà văn hóa…

Ít có triển lãm nào gây bất đồng sâu sắc như triển lãm này. Bản thân các nhân vật của “mỹ thuật đổi mới” cũng bất đồng với nhau, phủ nhận lẫn nhau vì khác biệt thế hệ hoặc khác biệt trường phái phong cách, quan niệm nghệ thuật và cách làm nghệ thuật. Đánh giá chất lượng triển lãm trải từ cực: Khen “đứt lưỡi”, rất hay, rất thú vị tới sổ toẹt, không xứng tầm, quá “buồn chán” không có gì mới. Câu hỏi truyền thông và tọa đàm chuyên môn có các loại: Tại sao tượng đài to thế, tiền hàng chục triệu “đô” không là thành tựu đổi mới? Đáp: Vì ngôn ngữ điêu khắc này quá cũ kiểu Liên Xô, cũ từ xửa xưa. Hỏi tại sao những người được giải thưởng toàn quốc, khu vực địa phương theo phong trào của các hội không lọt vào danh sách. Đáp: Đôi khi vì các tác giả hay nhất, tốt nhất ngại tham gia các triển lãm đó hoặc có tham gia cũng khó đạt sự đồng thuận của các hội đồng bỏ phiếu khá trung dung ở tầm trung bình, dĩ hòa vi quý. Hỏi: Tại sao họa sĩ A bán tranh nhiều nhất, tác giả B bán tranh giá cao nhất không có mặt. Đáp, giá tiền không chồng khít với giá trị nghệ thuật. Hỏi sao anh chị C và D có rất nhiều triển lãm ở các Đại sứ quán, đi quốc tế nhiều còn được giải thưởng “của Tây” nữa cũng vắng bóng? Đáp: Nhiều khi các tác giả tác phẩm đó chỉ được người nước ngoài biết đến còn dân ta không được xem, chẳng tác động gì mấy tới nghệ thuật “bản địa”… Vấn đáp cứ triền miên đến cả tầm “ném đá” trên mạng khiến triển lãm này thực sự là một điểm nhấn trong đời sống mỹ thuật khá trầm lặng. Song song hay “đối trọng” có một triển lãm “toàn cảnh khác” mang tên “Today-Hôm nay” của lớp nghệ sĩ mới tinh, trẻ nhất, nhưng có vẻ không tạo ra được sự phản biện với triển lãm tổng kết ở Bảo tàng quốc gia, vì cũng không có gì mới và khó gieo được niềm hy vọng về một cái gì mới sẽ tới.

Một nhà xã hội học nghệ thuật cho rằng: Nghệ thuật 30 năm vừa qua không bao giờ có thể gói vào một triển lãm, một cuốn sách hay một cuộc hội thảo vì nó quá rộng lớn phức tạp, nhiều mâu thuẫn và luôn biến động, tốc độ phủ nhận lẫn nhau ngày càng tăng không khi nào có sự đồng thuận được. Gốc rễ khiến đồng thuận từ nay về sau sẽ luôn là bất khả thi vì nghệ thuật phân mảng rõ rệt. Các mảng này chuyển dịch khi xô lấn, chồng lấp nhau hoặc biệt lập với nhau. Ít nhất có 4 - 5 “mảng”: Nghệ thuật quốc doanh gồm các công trình tuyên giáo đồ sộ và hoạt động phong trào trung dung của các Hội và hoạt động của các thiết chế văn hóa vốn luôn phải ổn định và bảo thủ. Mảng nghệ thuật thương mại đáp ứng các phân khúc khác nhau từ trang trí, lưu niệm cấp thấp rẻ tiền đến xa hoa lộng lẫy đắt tiền. Mảng nghệ thuật kết nối toàn cầu. Lấy liên kết, tiền bạc, không gian và sự công nhận của “quốc tế làm” mục tiêu hay đòn bẩy. Mảng sau nữa là các nghệ sĩ “độc lập hoặc tự do” lấy mình làm trung tâm trôi nổi giữa các mảnh trên tự tại nhờ một số sưu tập, bảo tàng hay nhà bảo trợ riêng… Mỗi mảng phân liệt ra như thế theo đuổi, phục tùng một thang giá trị khác nhau có khi đối kháng như thang giá trị tuyên giáo, thang giá trị phong trào, thang giá trị thương mại, thang giá trị “toàn cầu hóa”… Điều khiến ta không phải khi nào cũng áp được thang giá trị thẩm mỹ nhân văn mà xét đoán.

Nhà xã hội học này cũng cho rằng không chỉ trong nghệ thuật mà ở mọi lĩnh vực, mọi chủ đề, mọi câu hỏi đều có sự phân mảnh và lệch thang giá trị như vậy. Phản biện và tranh luận là bắt buộc, bất tận.

[QC] Đăng tin tuyển dụng, tìm việc làm nhanh, uy tín tại trang Việc Làm Báo Lao Động.

Bình luận

Vui lòng sử dụng tiếng Việt có dấu

Video xem nhiều nhất

Cảnh sát cơ động thủ đô đang làm những việc gì?