Vị đại tá an ninh và “Hò khoan Lệ Thủy”

LĐCT - 11 VŨ TOÀN
Chia sẻ

Khác với phòng truyền thống huyện Lệ Thủy (Quảng Bình) là vỏ bom, vỏ đạn, tranh ảnh thời chiến thì thư viện huyện này hiếm hoi những cuốn sách viết về hò khoan Lệ Thủy. Chị Võ Thị Chung, Giám đốc thư viện lấy cho tôi xem cuốn “Hò khoan Lệ Thủy” của tác giả Đặng Ngọc Tuân, nói: “Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về hò khoan Lệ Thủy nhưng bây giờ chỉ còn một cuốn”.

Đọc lời dẫn cuốn sách dày 297 trang của NXB Thời đại năm 2013, chúng tôi ngạc nhiên khi biết tác giả cuốn sách hò khoan là một đại tá, giáo viên Học viện An ninh (Bộ Công an). Điều thú vị khác, ông Tuân là một “cây” hò khoan thời niên thiếu ở quê làng Đại Phong, xã Phong Thủy, huyện Lệ Thủy. Năm nay 63 tuổi nhưng ông vẫn chưa nguôi đau đáu về sự “chìm lắng” của hò khoan quê ông.

10 năm điền dã

Ông Tuân giãi bày lý do “làm nghề an ninh mà lại viết công trình nghiên cứu về hò khoan” là bởi năm 1971, sau khi tốt nghiệp Học viện An ninh, ông được giữ lại làm giáo viên giảng dạy bộ môn An ninh điều tra. Sau đó, Học viện giao giảng dạy thêm bộ môn An ninh văn hóa tư tưởng trên lĩnh vực Văn học nghệ thuật nên ông theo học tại chức khóa 15 tại Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường ĐH KHXH&NV thuộc ĐH Quốc gia Hà Nội). “Khi cái thú nghiên cứu văn học ngấm say là mình nghĩ ngay về việc “phục dựng” hò khoan Lệ Thủy. Một dạng đề tài dân gian chưa có ai để tâm nghiên cứu và viết về nó” - ông Tuân tâm sự.

Vị đại tá an ninh và “Hò khoan Lệ Thủy” ảnh 1
Ông Đặng Ngọc Tuân và cuốn sách “Hò khoan Lệ Thủy”.

Năm 2003, ông sắm máy ảnh, máy ghi âm tranh thủ thời gian nghỉ phép, nghỉ lễ, tết về quê để thực hiện bằng được ý định này. Ở quê, ông hỏi bố mẹ địa chỉ những nghệ nhân hò cao niên đang còn sống như các cụ Đàn, cụ Dũng, cụ Quát, mệ Ninh, mệ Lan…

Tặng quà xong ông trải lòng bằng tình cảm xa quê đã 40 năm giờ muốn nghe lại những làn điệu hò khoan Lệ Thủy. Tâm hồn các cụ như mạch suối tắc nghẽn nay được khơi dòng nên nghe khơi gợi là hò luôn, còn ông mở máy ghi lại. Sức hấp dẫn của cuộc điền dã khiến ông đi không kể ngày, đêm. Có đêm mưa gió ông vẫn quàng túi xách chéo hông, cầm chiếc đèn pin lọ mọ đi tìm nghệ nhân hò kéo gỗ (hò lĩa trâu) vùng núi.

Ông bảo, mình nghe cụ già bà lão hò như được sống trong không khí của chín mái hò khoan thời xưa. Đi rồi mới sợ bởi “nếu mình chậm chân chút nữa thì sẽ hối hận vì họ là “kho tàng sống” về hò khoan đang bị hao hụt khi lớp người già ngày càng thưa dần. Ví như giờ chỉ còn hai cụ trên 100 tuổi”.

Ông kể tiếp những câu chuyện “trời cho” trong tháng ngày về quê đi điền dã: “Một hôm, trên đường về làng thì gặp đám tang cụ Trương Xăng nên đi đưa đám cùng. Dọc đường tới nghĩa trang, con cháu cụ Xăng mở loa phát lại những điệu hò khoan bằng lời của chính cụ. Tôi ghi lại điệu hò trong niềm xúc động về ý nghĩa hò khoan đối với một đời người cho đến khi ra nghĩa trang”.

Một dịp khác, ông Tuân về quê dự đám tang cụ Châu Đình Khóa, nguyên Trưởng đoàn Văn công tỉnh Quảng Bình, nghệ nhân 106 tuổi nổi tiếng gảy đàn tì bà khắp Bình Trị Thiên và là người lưu giữ nhiều tư liệu quý về hò khoan. Dịp đó, ông Tuân bàn với ông Dương Văn Liên, Giám đốc Trung tâm Văn hóa huyện Lệ Thủy và hai con gái cụ Khóa tổ chức hò “đưa linh” (đám tang) cho cụ Khóa để ghi nhớ đóng góp của cụ. Hôm đó đám tang dưới trời mưa vẫn tổ chức được hò “đưa linh” chèo cạn rất cảm động.

Ông Tuân nêu một chiêm nghiệm, hò khoan là thể loại hò sinh hoạt lễ hội quen thuộc nhưng người Lệ Thủy đã sáng tạo đưa hò khoan vào hò “đưa linh” với những biến tấu theo giai điệu trầm buồn hợp người, hợp cảnh lúc tang gia bối rối. Lệ Thủy là vùng đồng trũng, chằng chịt sông ngòi nên không có nghĩa trang trên đồng ruộng. Gia đình khi có đám tang phải di chuyển bằng thuyền đi khoảng 20 cây số mới đến nghĩa trang trên vùng núi. Đa số các đám tang được đưa trên hai thuyền kết lại, giữa lát ván rộng 5m để đặt quan tài. Phường hò ngồi hai bên quan tài hò “đưa linh” để lấy nhịp cho người chèo suốt cả đêm để kịp sáng sớm xong việc mai táng. Vì thế hò “đưa linh” ngày càng trở nên thể thức phổ biến trong hò khoan Lệ Thủy.

Giữa chừng câu chuyện, ông mở album ảnh lưu giữ trong máy vi tính, mở băng ghi âm như để nhớ lại những mốc điền dã. Giở cuốn Hò khoan Lệ Thủy, ông nói: “Sưu tầm rất công phu mới được 2.000 câu hò khoan lời cổ. Sau mỗi đợt điền dã lại “ôm” ra Hà Nội nghiền ngẫm, chắt lọc những câu hay nhất. Đây cũng là thời gian tôi tìm đọc, tra cứu hàng chục tác phẩm liên quan đến vùng đất Lệ Thủy và văn hóa dân gian như cuốn “Ô châu cận lục” của Dương Văn An (NXB Á Châu, Sài Gòn 1961); “Kho tàng diễn xướng dân gian VN” của Vũ Ngọc Khánh, Phạm Minh Thao (NXB Văn hóa thông tin 1997); “Những đặc trưng của hò Bình Trị Thiên” (NXB Trẻ 2006)…”. Tài liệu tham khảo giúp ông phân tích sự giao thoa văn hóa vùng miền để tạo nên chất và dạng hò khoan Lệ Thủy. Đây là nội dung xây dựng nên tiểu luận, nghiên cứu để dẫn ra những khái niệm có tính gợi mở về toàn cảnh bức tranh và thần thái của hò khoan Lệ Thủy.

Ôm sách đi tập huấn hò khoan

Do bận bịu công việc chuyên môn nên năm 2010 khi vừa nghỉ hưu, ông Tuân ngồi soạn lại những bài viết chuẩn bị in sách. Trong 2.000 câu hò lời cổ sưu tầm được, ông chọn lọc 1.000 câu đưa vào phần hai cuốn sách. Phần một, với lời dẫn khảo cứu về hò khoan Lệ Thủy gần 100 trang, ông Tuân mô tả môi trường hình thành hò khoan; khẳng định hò khoan Lệ Thủy là một thể loại dân ca đặc sắc; những giá trị về nội dung, nghệ thuật và âm nhạc của hò khoan Lệ Thủy.

Nhớ lại ngày tháng ngồi viết sách, ông bảo: “Năm 2011, mừng cho hát Xoan Phú Thọ được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể thế giới cũng là lúc mình “cay mũi” với hò khoan quê mình. Bao ấp ủ viết cuốn sách này trở nên thôi thúc hơn để thiên hạ thấy được mặt mũi của huyện mình ra sao chứ”. Cũng trong năm 2011, ông Tuân về gặp ông Đặng Tôn, Chủ tịch UBND huyện Lệ Thủy nêu hai đề nghị: Một, nên đưa hò khoan vào trường học nếu không lớp trẻ quên hết. Hai, nên thành lập các CLB tại các làng xã để người dân có cơ hội lưu giữ lâu dài hồn vía của hò khoan. Ông Tôn băn khoăn hỏi lại ông Tuân: “Có đưa hò khoan vào trường học được không, nếu được tôi sẽ mời Trưởng phòng GD-ĐT sang để bàn”. Ông Tuân nói rằng, “Tôi làm nghề giáo nên khẳng định là không những đưa vào được mà còn được khuyến khích”.

Vị đại tá an ninh và “Hò khoan Lệ Thủy” ảnh 2

Ông Tuân đang trò chuyện về hò khoan với các nghệ nhân hò ở xã Phong Điền.

(Ảnh nhân vật cung cấp).

Năm 2013, NXB Thời đại in 2.000 cuốn “Hò khoan Lệ Thủy”. Cuốn sách thuộc Dự án công bố tài sản văn nghệ dân gian VN. Sau khi in, biết NXB phát hành tại tất cả thư viện các trường ĐH trong cả nước và thư viện từ huyện trở lên nhưng ông vẫn dùng hơn bốn triệu đồng nhuận bút và bỏ thêm tiền in nối bản thêm 300 cuốn để tặng. Cách tặng của ông là “ôm” sách về quê vừa tổ chức tập huấn hò khoan vừa giới thiệu cuốn sách rồi tặng.

Lần thứ nhất, ông về kết hợp Phòng GD-ĐT huyện tổ chức lớp tập huấn cho hiệu trưởng, hiệu phó và giáo viên phụ trách văn hóa văn nghệ 97 trường học từ mầm non trở lên. Ông đăng đàn và nhờ 21 thành viên CLB nghệ nhân dân ca - hò khoan Lệ Thủy minh họa bằng chính những điệu hò do ông sưu tầm.

Lần hai, ông về kết hợp với huyện tổ chức lớp tập huấn cho cán bộ văn hóa 28 xã, thị trấn trong huyện. Lần ba, cuối năm 2013 Trường ĐH Quảng Bình mời ông nói chuyện về bảo tồn và phát triển hò khoan Lệ Thủy cho giáo viên và sinh viên chuyên ngành văn hóa. Tại đây, ông đề nghị ĐH Quảng Bình ngoài hò khoan nên tổ chức nghiên cứu hết 18 điệu hò khác trên đất Quảng Bình. Theo ông nghĩ, đội ngũ trí thức sẽ giúp học sinh hiểu sâu về hò khoan còn cán bộ xã giúp hò khoan phát triển rộng khắp.

Sau ba cuộc này, 300 cuốn sách tặng giáo viên, cán bộ xã, 21 nghệ nhân CLB và cán bộ huyện, cán bộ Trường ĐH Quảng Bình vừa hết. “Sau khi biết hướng phát triển hò khoan được đưa vào Nghị quyết Đảng bộ huyện từ năm 2010, 97 trường học từ mầm non đến THPT và 28 xã thị trấn đều có CLB hò khoan thì tôi sung sướng quá. Cách đây 3 tháng tôi về gặp Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình tặng cuốn sách rồi đề nghị tỉnh thúc đẩy làm hồ sơ để hò khoan được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia”, ông Tuân bộc bạch.

“Từ môi trường lịch sử địa - văn hóa đến khái niệm, nhận thức hò khoan về quy ước tổ chức, cách diễn xướng, các làn điệu, các lối hò, âm nhạc thật khoa học, dễ hiểu. Đây là công trình có giá trị về sưu tầm, biên khảo và nghiên cứu, một vốn quý cho việc bảo tồn vốn cổ hò khoan ở Lệ Thủy. Tác giả đã cung cấp cho chúng ta nhiều tư liệu quý cũng như những tìm tòi, phát hiện có giá trị về học thuật”.

(GS.TSKH Tô Ngọc Thanh - Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian VN)

[QC] Đăng tin tuyển dụng, tìm việc làm nhanh, uy tín tại trang Việc Làm Báo Lao Động.

Bình luận

Vui lòng sử dụng tiếng Việt có dấu

Video xem nhiều nhất

Nhìn lại hành trình phanh phui gần 3.000 hồ sơ thương binh giả của 2 lão nông 80 tuổi