Mình chia tài sản chung em nhé!

LĐĐS - 04 Nguyễn Thị Thúy Hường
Vợ, chồng có quyền có tài sản riêng trong thời gian chung sống cùng nhau. Ảnh Minh hoạ

Xã hội ngày một phát triển nên vai trò của phụ nữ cũng ngày một chú trọng hơn. Hình ảnh người phụ nữ chỉ tối ngày gắn bó với chuyện bếp núc và không có công việc bên ngoài ngày một ít đi. Thay vào đó là hình ảnh những người phụ nữ xông xáo ngoài xã hội và có những công việc riêng bên ngoài. Tuy vậy không phải người chồng nào cũng hoàn toàn tin tưởng vào những ý tưởng và công việc kinh doanh của người vợ. Chuyện vợ chồng không thống nhất với nhau về cách thức sử dụng tiền chung để kinh doanh là không hiếm. Mỗi người sẽ có suy nghĩ khác nhau và có những nhận định khác nhau về cách thức kiếm tiền và sử dụng tiền.

Không muốn vợ làm “bà chủ”

Anh T và chị L sau 10 năm kết hôn có chung một số tiền kha khá. Ngoài căn nhà vợ chồng mua chung, anh chị còn có một khoản tiền mặt 900 triệu đồng và một mảnh đất trị giá hơn 1 tỷ đồng. Số tiền 900 triệu đồng ấy, anh chị gửi tiết kiệm ở ngân hàng với kỳ hạn 3 tháng. Gần đây chị L có ý định sử dụng số tiền này để kinh doanh chung với một người bạn chuyên bán mỹ phẩm và quần áo trên mạng, nhưng anh T không đồng ý với kế hoạch kinh doanh của chị, vì cho rằng rất rủi ro, thay vì kinh doanh thì cứ gửi tiền tiết kiệm ở ngân hàng cho an toàn. Hơn nữa, anh chị cũng đều đang làm việc cho công ty nước ngoài với vị trí trưởng phòng nên tiền lương cũng tốt, hà cớ gì chị L phải lao vào kinh doanh cho cực nhọc mà lại tiềm ẩn những rủi ro khó lường. Chị L vẫn cố gắng thuyết phục anh T với lý lẽ dù tiền lương của anh chị so với mặt bằng chung ngoài xã hội là khá cao, nhưng để đủ tiền cho 2 đứa con 8 tuổi và 5 tuổi của anh chị sau này lớn lên đi du học nước ngoài thì cần phải kiếm thêm thu nhập. Nếu anh T không đồng ý thì chị sẽ đi vay tiền bên ngoài để làm. Cũng vì chuyện này mà hai vợ chồng cứ lục đục suốt. Thậm chí, khi bực tức, chị L còn tuyên bố vợ chồng ly dị rồi chia đôi tài sản. Chị sẽ sử dụng số tài sản được chia khi ly hôn để chị kinh doanh doanh và sẽ chứng minh cho anh T thấy là chị có khả năng buôn bán và kiếm ra tiền chứ không phải như anh T suy nghĩ và nhận định.
Anh T nói với tôi khi nhờ tư vấn, thực lòng anh rất yêu vợ, yêu con và không hề muốn có chuyện ly hôn xảy ra. Sở dĩ anh ngăn cản chị L vì không muốn tài sản mà vợ chồng gầy dựng bao nhiêu năm nay lại bị rủi ro và có nguy cơ không giữ được vì những kế hoạch kinh doanh mạo hiểm của chị L. Nhưng anh biết tính chị L một khi đã muốn làm gì thì khó ai ngăn cản được. Ngay cả việc chị tuyên bố vợ chồng ly hôn để chia tài sản, rồi sau đó theo đuổi kế hoạch kinh doanh trên mạng cũng có thể thành hiện thực nếu như anh T vẫn cương quyết không đồng ý cho chị sử dụng tiền chung của vợ chồng để làm vốn. Anh T hỏi tôi có giải pháp nào không cần đến ly hôn nhưng anh chị vẫn có thể chia được tài sản. Số tài sản mà mỗi người được chia sẽ được sử dụng theo ý muốn riêng mà không ảnh hưởng đến người kia?

Dung hoà sở thích

Tôi nói với anh T: “Điều 38 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật hôn nhân và gia đình 2014; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật hôn nhân và gia đình 2014”.
Như vậy, việc chia tài sản chung của vợ chồng có thể được giải quyết theo thỏa thuận của vợ chồng hoặc bằng con đường Tòa án. Về hình thức của thỏa thuận về việc chia tài sản chung của vợ chồng được pháp luật quy định là thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.
Lưu ý là việc chia tài sản chung của vợ chồng bị vô hiệu nếu rơi vào một trong các trường hợp được quy định tại Điều 42 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Cụ thể, việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: “1. Ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; 2. Nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ sau đây: a) Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng; b) Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại; c) Nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản; d) Nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức; đ) Nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước; e) Nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định của Luật này, Bộ luật Dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan”.
Anh T hỏi tiếp: “Nhưng khi chia như thế thì bao giờ mới phát sinh hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân?”. Tôi trả lời: “Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định tại Điều 39 như sau: “1. Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng là thời điểm do vợ chồng thỏa thuận và được ghi trong văn bản; nếu trong văn bản không xác định thời điểm có hiệu lực thì thời điểm có hiệu lực được tính từ ngày lập văn bản. 2. Trong trường hợp tài sản được chia mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực từ thời điểm việc thỏa thuận tuân thủ hình thức mà pháp luật quy định. 3. Trong trường hợp Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng thì việc chia tài sản chung có hiệu lực kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. 4. Quyền, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh trước thời điểm việc chia tài sản chung có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”.
Hậu quả của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được quy định tại Điều 40 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014: “1. Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng. 2. Thỏa thuận của vợ chồng quy định tại khoản 1 Điều này không làm thay đổi quyền, nghĩa vụ về tài sản được xác lập trước đó giữa vợ, chồng với người thứ ba”.
Sau khi nghe tư vấn, khuôn mặt anh T trở lên rạng rỡ bởi đã biết hướng giải quyết êm thấm cho chuyện của vợ chồng mình, đạt được mục đích không phá vỡ hạnh phúc gia đình mà vợ anh vẫn có thể dùng một phần tài sản có được để kinh doanh. Mấy ngày sau, anh gọi điện cám ơn tôi và cho biết đã thuyết phục được vợ thống nhất chia một số tài sản chung nhất định đủ cho chị L làm vốn kinh doanh. Phần tài sản được chia, anh T sẽ giữ lại để phòng khi chị làm ăn có rủi ro thì vẫn còn “của để dành”. Rõ ràng, hai con người là hai cá thể khác biệt, với những tính cách riêng cần phải dung hoà và tôn trọng nhau để đảm bảo hạnh phúc trong gia đình.  

[QC] Đăng tin tuyển dụng, tìm việc làm nhanh, uy tín tại trang Việc Làm Báo Lao Động.

Bình luận

Vui lòng sử dụng tiếng Việt có dấu

Video xem nhiều nhất

Nghẹt thở cảnh không quân Đức chặn máy bay Boeing chở 330 khách