Ở đâu anh trí thức làng?

Trương Điện Thắng
Thầy đồ dạy học.

Trí thức ở làng, anh là ai, anh đang ở đâu? Đi về những vùng nông thôn bây giờ, gặp những người dân lam lũ với áo cơm, nhìn cuộc sống - tuy đã có những "điện-đường-trường-trạm", thậm chí có nhiều xe hơi, nhà lầu...nhưng đời sống văn hóa lại không cân xứng, tôi chợt nghĩ đến làng xã ngày xưa và vai trò của những trí thức ở làng...

Trí thức nông thôn xưa

Cho đến thời Nguyễn Hoàng trấn thủ kiêm cả Quảng Nam (1570), việc học hành từ phía nam đèo Hải Vân không mấy phát triển. Từ đèo Ngang trở vào, thì cho đến cuối  thế kỷ 18, cũng chỉ có ba người đậu tiến sĩ: Bùi Dục Tài, quê ở huyện Hải Lăng, Quảng Trị vào năm 1502; hai người kia đều quê Lệ Thủy, Quảng Bình là Dương Văn An (1547), tác giả Ô châu cận lục và Phạm Đại Kháng (1592).

Mãi đến năm 1647, chúa Nguyễn Phúc Lan mới mở khoa thi Chính đồ  để  lấy  người bổ làm quan. Phải đợi đến năm 1813, dưới triều Gia Long mới đặt thêm hai  trường thi Hương ở Đàng Trong: Quảng Đức (sau đổi thành Trực Lệ vào năm 1819, rồi Thừa Thiên vào năm 1825, dành cho sĩ tử từ Quảng Bình đến Khánh Hoà).

Trong gần 80 năm, Quảng Nam đã có cả thảy 39 người đỗ đại khoa (gồm 16 tiến sĩ và 23 phó bảng). Riêng vùng Gò Nổi, Điện Bàn có được 3 tiến sĩ: Phạm Phú Thứ (Đông Bàn, 1843), Phạm Liệu (Trừng Giang, 1898), Phạm Tuấn (Xuân Đài, 1898); và ba phó bảng: Nguyễn Duy Tự (Bảo An, 1844), Hoàng Diệu (Xuân Đài, 1853), Phan Trân (Bảo An, 1895)...

Ngày xưa, những vị đỗ đạt ra làm quan, khi nghỉ hưu đa phần đều về sống ở quê nhà và góp phần quan trọng vào đời sống chính trị, xã hội và nhất là văn hoá, giáo dục của làng mình hay một vùng, tùy vào uy tín cá nhân, theo trình tự "Tiến vi quan, thoái vi sư". Ngay tại mỗi làng, còn có nhiều ông Tú, nhiều người học giỏi nhưng nghèo hoặc thi không đỗ cũng ở lại làng mở lớp dạy học và tham gia việc làng, việc xã. Họ là những "trí thức nông thôn", có tiếng nói quan trọng trong những vấn đề văn hóa, xã hội, nhiều khi lấn át, điều tiết được những công việc quản lý của các hào lý đương quyền.

Nhiều giai thoại, truyền ngôn về Ông Ích Khiêm, Phan Khôi, Thủ Thiệm, Tú Quỳ, Huỳnh Thúc Kháng...còn mang tính phản biện xã hội hoặc nêu những gương sáng về đạo đức khá lý thú và hữu ích trong đời sống xã hội đương thời...

Và nay

Làng Thanh Quýt là một trong 66 làng cổ còn được ghi lại trong Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An (1555). Trong hơn 400 năm từ ngày lập làng đến nay, các vị quan lại từ phủ, huyện đến thượng thư ngày xưa, khi nghỉ việc đều về lại làng, lo những công việc dòng tộc, làng xã, góp phần xây dựng các thiết chế văn hóa. Tuy không có những tài liệu ghi lại công trạng đầy đủ của các vị, nhưng từ các truyền ngôn, đều cho thấy vai trò trí thức của họ trong nhiều công việc cụ thể.

Đến thời chúng tôi, ít ra cũng từ nửa thế kỷ 20 đến nay, hầu hết các trí thức ra làm việc cho các chế độ chính trị khác nhau ở cả miền Nam và miền Bắc đều hiếm thấy có ai về làng cũ. Ở nhiều làng quê nổi tiếng là đất học, mỗi năm có đến vài chục thanh niên thi đỗ vào đại học, nhưng khi ra trường chẳng thấy ai quay về quê, vì chắc chắn ở đó không có việc làm.

Nhưng nhiều người có học vị đến tuổi nghỉ hưu, thậm chí từng làm việc ở cấp huyện, cũng mua nhà ở các thành phố. Họa hoằn lắm mới về thăm quê trong những ngày giỗ kỵ, tết nhất. Còn lại, như ở làng tôi, cũng chỉ vài cựu giáo chức hưu trí ở làng, vui thú tuổi già với vài sào ruộng, khoảnh vườn và ít khi tham gia vào các sinh hoạt cộng đồng. Khoảng cách giữa họ và những viên chức địa phương, ít nhiều đã tồn tại vì nhiều lý do. Nhiều nhà khoa học, có danh tiếng hơn vẫn tiếp tục chọn thủ đô, các đô thị lớn để sinh sống hơn là về quê cũ, mặc dù ngày nay công nghệ thông tin, giao thông đã hết sức tiện lợi và đặc biệt môi trường sống ở nông thôn lại khá trong lành!

Mặt khác, ngay cả nhiều người làm lãnh đạo tại các xã nông thôn cũng không thấy hết vai trò của những trí thức ít ỏi còn ở làng, nên không nghĩ tới việc vận động họ tham gia vào đời sống cộng đồng, vào công tác mặt trận chẳng hạn, để có điều kiện tư vấn, đóng góp vào phát triển văn hóa, xã hội địa phương... Chính quyền các địa phương mỗi năm thường đến các thành phố lớn để "họp đồng hương", nhưng rất khó thấy họ có những cuộc gặp gỡ riêng những người trí thức để thăm hỏi, tham vấn. Họ lại thường bị cuốn vào các "chỉ tiêu" mang tính vật chất, do vậy ít có thời gian nghĩ đến những vấn đề văn hóa, tinh thần chăng?

Thực trạng này khiến nhớ tới nhà thơ Nguyễn Hưng Hải viết trong bài "Trí thức làng" mở đầu bằng mấy câu hết sức xót xa:

Chất xám chảy về đâu
những trí thức của làng
năm mấy bận thăm quê
năm mấy lần họp lớp
đã nghĩ gì
hay chỉ nói theo thôi?
 
chất xám của làng có mặt khắp muôn nơi
nhưng chất xám không về thửa ruộng
cha mẹ cắt cho bò
chó chạy hở đuôi?
 
Chất xám của làng có mặt khắp muôn nơi
nhưng chất xám không về
những mảnh vườn tạp mãi
tu hú bay đi
tiếng kêu còn ở lại
trong cái tổ chim ri ngoài rặng vải quê mình...
Loading...

[QC] Đăng tin tuyển dụng, tìm việc làm nhanh, uy tín tại trang Việc Làm Báo Lao Động.

Bình luận

Vui lòng sử dụng tiếng Việt có dấu

Video xem nhiều nhất

Cổ thụ ngã ngay trung tâm Sài Gòn, một người trọng thương