Đối tượng nào thuộc diện tinh giản biên chế?

LĐĐS - 10 Nam Dương
Chia sẻ
NLĐ có HĐLĐ xác định thời hạn phải báo trước cho NSDLĐ 30 ngày khi nghỉ việc nếu có lý do chính đáng. Ảnh: Nam Dương

Trong tuần, Văn phòng Tư vấn pháp luật Báo Lao Động nhận được một số câu hỏi liên quan đến vấn đề nghỉ việc theo diện tinh giản biên chế; nghĩa vụ của NLĐ khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Báo Lao Động trích đăng câu hỏi và trả lời.

Hạn chế về năng lực có thể bị tinh giản

Bạn đọc số 0643836XXX, gọi đến số điện thoại Tư vấn pháp luật của Báo Lao Động 0961.360.559, hỏi: Tôi là Viên chức làm ở một đơn vị sự nghiệp. Năm nay đã 53 tuổi và có hơn 32 năm tham gia BHXH. Tôi có phải nghỉ việc theo diện tinh giản biên chế không? 

Văn phòng Tư vấn pháp luật Báo Lao Động trả lời: Điều 6, Nghị định 108/2014/NĐ-CP quy định về các trường hợp tinh giản biên chế như sau:

1. Cán bộ (CB), công chức (CC), viên chức (VC) trong biên chế và CB, CC cấp xã hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là CB, CC,VC), thuộc đối tượng tinh giản biên chế nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Dôi dư do rà soát, sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền của Đảng, Nhà nước hoặc do đơn vị sự nghiệp công lập sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự để thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy và nhân sự;

b) Dôi dư do cơ cấu lại CB, CC, VC theo vị trí việc làm, nhưng không thể bố trí, sắp xếp được việc làm khác;

c) Chưa đạt trình độ đào tạo theo tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ quy định đối với vị trí việc làm đang đảm nhiệm, nhưng không có vị trí việc làm khác phù hợp để bố trí và không thể bố trí đào tạo lại để chuẩn hóa về chuyên môn;

d) Có chuyên ngành đào tạo không phù hợp với vị trí việc làm hiện đang đảm nhiệm nên bị hạn chế về năng lực hoàn thành công việc được giao, nhưng không thể bố trí việc làm khác.

đ) Có 2 năm liên tiếp liền kề tại thời điểm xét tinh giản biên chế, CB, CC được phân loại, đánh giá xếp vào mức hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực hoặc có 1 năm hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực và 1 năm không hoàn thành nhiệm vụ nhưng không thể bố trí việc làm khác phù hợp.

e) Có 2 năm liên tiếp liền kề tại thời điểm xét tinh giản biên chế, viên chức có 1 năm được phân loại đánh giá xếp vào mức hoàn thành nhiệm vụ và 1 năm không hoàn thành nhiệm vụ nhưng không thể bố trí việc làm khác phù hợp.

g) Có 2 năm liên tiếp liền kề tại thời điểm xét tinh giản biên chế, mỗi năm có tổng số ngày nghỉ làm việc là số ngày nghỉ tối đa do ốm đau theo quy định tại Khoản 1, Điều 23 Luật BHXH, có xác nhận của cơ sở khám chữa bệnh và cơ quan BHXHi chi trả trợ cấp ốm đau theo quy định hiện hành.

2. Người làm việc theo chế độ HĐLĐ không xác định thời hạn trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ) dôi dư do sắp xếp lại tổ chức theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền hoặc do đơn vị sự nghiệp công lập sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự để thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy và nhân sự.

3. VC, người làm việc theo chế độ HĐLĐ không xác định thời hạn tại các đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự dôi dư do sắp xếp lại tổ chức theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền hoặc do đơn vị sự nghiệp công lập sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự để thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy và nhân sự.

Ngoài ra, những người là CB, CC được cơ quan có thẩm quyền cử làm người đại diện theo ủy quyền đối với phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước, khi thôi làm đại diện phần vốn nhà nước, nhưng không bố trí được vào vị trí công tác mới; những người làm việc trong biên chế được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cho các hội thuộc danh sách dôi dư do sắp xếp lại tổ chức theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền… cũng thuộc các trường hợp tinh giản biên chế. 

Bạn có thể căn cứ vào các quy định trên để xem mình có thuộc trường hợp tinh giản biên chế hay không.

Có bầu 4 tháng, bị sa thải có được hưởng chế độ thai sản?

Bạn đọc số 01674835XXX, gọi đến số điện thoại Tư vấn pháp luật của Báo Lao Động 0961.360.559, hỏi: Vợ tôi đang có bầu 4 tháng, đã đóng BHXH được 3 tháng thì bị Cty sa thải. Khi sinh, vợ tôi có được hưởng chế độ thai sản không?

Văn phòng Tư vấn pháp luật Báo Lao Động trả lời: Trước hết, Điều 31 Luật BHXH 2014 quy định điều kiện hưởng chế độ thai sản như sau:

1. NLĐ được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Lao động nữ mang thai; b) Lao động nữ sinh con; c) Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ; d) Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi; đ) Lao động nữ đặt vòng tránh thai, người lao động thực hiện biện pháp triệt sản; e) Lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội có vợ sinh con. 2. NLĐ quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều này phải đóng BHXH từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi. 3. NLĐ quy định tại điểm b khoản 1 Điều này đã đóng BHXH từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì phải đóng BHXH từ đủ 3 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con. Do đó, nếu vợ bạn không thuộc trường hợp phải nghỉ việc để điều trị bệnh theo khoản 3, điều 31 thì sẽ không đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản.

Tuy nhiên, pháp luật lao động nghiêm cấm NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ hay kỷ luật lao động sa thải NLĐ khi đang có thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 12 tháng. Do đó, Cty của vợ bạn đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật. Vợ bạn nên làm đơn đề nghị Phòng LĐTBXH hoặc LĐLĐ cấp huyện nơi Cty đóng trụ sở can thiệp, bảo vệ quyền lợi. Trường hợp cần thiết có thể khởi kiện Cty ra tòa. 

Nghỉ việc báo trước 20 ngày có vi phạm?

Bạn đọc số 0917989XXX, gọi đến số điện thoại Tư vấn pháp luật của Báo Lao Động 0961.360.559, hỏi: Tôi có HĐLĐ một năm. Tôi nghỉ việc báo trước 20 ngày có vi phạm gì không?

Văn phòng Tư vấn pháp luật Báo Lao Động trả lời: NLĐ làm việc theo HĐLĐ xác định thời hạn được quyền nghỉ việc khi báo trước cho NSDLĐ 30 ngày nếu có các lý do chính đáng như: Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong HĐLĐ; Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong HĐLĐ; Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động; bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục. Như vậy, nếu bạn chỉ báo trước 20 ngày (kể cả trường hợp có lý do chính đáng) đã nghỉ việc là vi phạm. Theo quy định tại điều 43 BLLĐ, thì bạn phải bồi thường cho NSDLĐ một nửa tháng lương; tiền vi phạm những ngày báo trước.  

[QC] Đăng tin tuyển dụng, tìm việc làm nhanh, uy tín tại trang Việc Làm Báo Lao Động.

Bình luận

Vui lòng sử dụng tiếng Việt có dấu

Video xem nhiều nhất

Bị nợ lương 5 tháng, công nhân khóc ròng vay mượn sống qua ngày