Quy định về tăng ca và ký HĐLĐ

LĐĐS - 02 Nam Dương
Chia sẻ
Muốn tăng ca NSDLĐ phải thỏa thuận với NLĐ. Ảnh: Nam Dương

Tuần qua, Văn phòng Tư vấn pháp luật Báo Lao Động nhận được một số câu hỏi liên quan đến việc tăng ca, không muốn ký tiếp HĐLĐ và cách phân chia tài sản, nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi ly hôn. Báo Lao Động trích đăng một số câu hỏi và trả lời.

Không tăng ca, bị đình chỉ công việc có đúng luật?

Bạn đọc số 01657696XXX từ Hóc Môn, TPHCM gọi đến số điện thoại Tư vấn pháp luật của Báo Lao Động 0961.360.559 hỏi: Tôi làm CN bốc vác tại một Cty ở huyện Hóc Môn. Hết giờ làm việc bình thường, Cty yêu cầu tôi tăng ca. Tôi không đồng ý thì bị Cty đình chỉ công việc. Tôi phải làm sao?
Văn phòng Tư vấn pháp luật Báo Lao Động trả lời: Điểm a, khoản 2, Điều 106 BLLĐ 2012 quy định: Người sử dụng lao động (NSDLĐ) được sử dụng NLĐ làm thêm giờ khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây: Được sự đồng ý của NLĐ;
Điều 107 BLLĐ 2012 quy định về làm thêm giờ trong những trường hợp đặc biệt:
NSDLĐ có quyền yêu cầu NLĐ làm thêm giờ vào bất kỳ ngày nào và NLĐ không được từ chối trong các trường hợp sau đây: Thực hiện lệnh động viên, huy động bảo đảm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật; Thực hiện các công việc nhằm bảo vệ tính mạng con người, tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng ngừa và khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh và thảm họa.
Như vậy, nếu Cty bạn yêu cầu làm thêm giờ không thuộc trường hợp quy định tại điều 107 BLLĐ, thì bạn có quyền không làm thêm giờ. Trong trường hợp này, việc Cty đình chỉ công việc của bạn là trái quy định. Bạn có thể làm đơn khiếu nại đến Phòng LĐTBXH hoặc LĐLĐ huyện Hóc Môn nhờ can thiệp bảo vệ quyền lợi.

Đi thông báo tình trạng việc làm trễ phải làm sao?

Bạn đọc số 0903334718 từ Quận 4, TPHCM gọi đến số điện thoại Tư vấn pháp luật của Báo Lao Động 0961.360.559 hỏi: Ngày 15.12.2016 là ngày tôi phải đến Trung tâm dịch vụ việc làm để thông báo tình trạng việc làm để hưởng TCTN lần thứ 2. Do tôi nhìn lầm nên mãi đến ngày 25.12.2016 tôi mới đến thông báo tình trạng việc làm và được nhân viên Trung tâm Dịch vụ việc làm từ chối chi trả trợp cấp thất nghiệp (TCTN). Tôi phải làm sao để tiếp tục được hưởng TCTN?
Văn phòng tư vấn pháp luật Báo Lao Động trả lời: Khoản 2, Điều 19 Nghị định 28/2015/NĐ-CP quy định: Trong thời hạn 2 ngày làm việc kể từ ngày NLĐ không đến thông báo về việc tìm kiếm việc làm hằng tháng theo quy định, Trung tâm Dịch vụ việc làm nơi NLĐ đang hưởng TCTN trình Giám đốc Sở LĐTB&XH quyết định về việc tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp của NLĐ”. Khoản 1, Điều 20 Nghị định 28/2015/NĐ-CP quy định về việc tiếp tục hưởng TCTN: “NLĐ bị tạm dừng hưởng TCTN theo quy định tại Khoản 1 Điều 53 Luật Việc làm nếu vẫn còn thời gian hưởng TCTN theo quyết định của Giám đốc Sở LĐTB&XH mà tiếp tục thực hiện thông báo về việc tìm kiếm việc làm hằng tháng theo quy định thì trong thời hạn 2 ngày làm việc kể từ ngày NLĐ đến thông báo về việc tìm kiếm việc làm, Trung tâm Dịch vụ việc làm trình Giám đốc Sở LĐTB&XH quyết định về việc tiếp tục hưởng TCTN cho NLĐ”.
Như vậy, việc nhân viên Trung tâm Dịch vụ việc làm cho biết bạn bị dừng hưởng TCTN tháng thứ hai là có cơ sở. Trong lần đến trình diện và thông báo tình trạng việc làm tháng kế tiếp, nếu vẫn chưa tìm được việc làm, bạn nên đến đúng hẹn để làm thủ tục tiếp tục nhận TCTN

Hết hạn HĐLĐ 6 ngày, không ký tiếp HĐLĐ được không?

Bạn đọc số 01638787XXX gọi đến số điện thoại Tư vấn pháp luật của Báo Lao Động 0961.360.559 hỏi: Cty tôi ký HĐLĐ với NLĐ thời hạn 6 tháng. Nay đã hết thời hạn HĐLĐ được 6 ngày và NLĐ vẫn tiếp tục làm việc. Bây giờ Cty chấm dứt HĐLĐ với NLĐ được không?
Văn phòng tư vấn pháp luật Báo Lao Động trả lời: Điều 22 BLLĐ 2012 quy định Loại HĐLĐ: 1. HĐLĐ phải được giao kết theo một trong các loại sau đây: a) HĐLĐ không xác định thời hạn. HĐLĐ không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng. b) HĐLĐ xác định thời hạn; HĐLĐ xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng. c) HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.
2. Khi HĐLĐ quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này hết hạn mà NLĐ vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày HĐLĐ hết hạn, hai bên phải ký kết HĐLĐ mới; nếu không ký kết HĐLĐ mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều này trở thành HĐLĐ không xác định thời hạn và hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều này trở thành HĐLĐ xác định thời hạn với thời hạn là 24 tháng. Trường hợp hai bên ký kết HĐLĐ mới là hợp đồng xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm 1 lần, sau đó nếu NLĐ vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết HĐLĐ không xác định thời hạn.
Do đó, HĐLĐ của NLĐ trên đã trở thành HĐLĐ có thời hạn 24 tháng. Nếu Cty bây giờ chấm dứt HĐLĐ với NLĐ mà không có lý do chính đáng theo quy định tại Điều 37 BLLĐ 2012 thì trở thành đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái luật.

Ly hôn, nghĩa vụ cấp dưỡng ra sao?

Bạn đọc số 0983101XXX gọi đến số điện thoại Tư vấn pháp luật của Báo Lao Động 0961.360.559 hỏi: Vợ chồng tôi có hai con, 1 con 4 tuổi, 1 con 6 tuổi. Bây giờ ly dị thì con chia thế nào, nghĩa vụ cấp dưỡng ra sao?
Văn phòng tư vấn pháp luật Báo Lao Động trả lời: Khoản 2, Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định: Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây: a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập; c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn: Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.
Khoản 2, Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
Điều 107 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác. Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh nghĩa vụ thì theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 119 của Luật này, Tòa án buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật này.
Điều 108 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định
Trong trường hợp một người có nghĩa vụ cấp dưỡng cho nhiều người thì người cấp dưỡng và những người được cấp dưỡng thỏa thuận với nhau về phương thức và mức cấp dưỡng phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của những người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do con của bạn còn nhỏ, chưa đủ 7 tuổi nên ai được quyền nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng cụ thể sẽ do phán quyết của tòa.  

[QC] Đăng tin tuyển dụng, tìm việc làm nhanh, uy tín tại trang Việc Làm Báo Lao Động.

Bình luận

Vui lòng sử dụng tiếng Việt có dấu

Video xem nhiều nhất

Thụy Điện dễ dàng có chiến thắng đậm 4 - 0 trước đối thủ yếu Belarus