Nghỉ việc đúng luật hưởng những chế độ gì?

LĐĐS - 04 Nam Dương
Chia sẻ
NLĐ được nghỉ phép 12, 14 hoặc 16 ngày/năm tùy điều kiện công việc. Ảnh: Nam Dương

Văn phòng Tư vấn pháp luật Báo Lao Động nhận được một số câu hỏi liên quan đến chế độ nghỉ phép năm, thai sản, quyền lợi khi nghỉ việc, trợ cấp thất nghiệp. Báo Lao Động trích đăng câu hỏi và trả lời.

Cty không thực hiện chế độ phép năm, có vi phạm pháp luật?

Bạn đọc email tranvankyXXX@gmail.com gửi email đến Báo Lao Động hỏi: Tôi đang làm công nhân nhưng Cty tôi không có chế độ phép năm. Cty tôi có vi phạm luật lao động không?
Văn phòng Tư vấn pháp luật Báo Lao Động trả lời: Điều 111 BLLĐ 2012 quy định về ngày nghỉ hằng năm (nghỉ phép): NLĐ có đủ 12 tháng làm việc cho một NSDLĐ thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương theo HĐLĐ 12, 14 hoặc 16 ngày tùy công việc trong điều kiện bình thường hay nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc người làm việc ở những nơi có điều kiện sinh sống đặc biệt khắc nghiệt theo danh mục do Bộ LĐTB&XH phối hợp với Bộ Y tế ban hành. NLĐ có thể thoả thuận với NSDLĐ để nghỉ hằng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 3 năm một lần. Khi nghỉ hằng năm, nếu NLĐ đi bằng các phương tiện đường bộ, đường sắt, đường thủy mà số ngày đi đường cả đi và về trên 2 ngày thì từ ngày thứ 3 trở đi được tính thêm thời gian đi đường ngoài ngày nghỉ hằng năm và chỉ được tính cho 1 lần nghỉ trong năm.
Điều 112 BLLĐ quy định: Cứ 5 năm làm việc cho một NSDLĐ thì số ngày nghỉ hằng năm của NLĐ theo quy định tại khoản 1 Điều 111 của Bộ luật này được tăng thêm tương ứng 1 ngày. Điều 114 BLLĐ quy định: NLĐ do thôi việc, bị mất việc làm hoặc vì các lý do khác mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì được thanh toán bằng tiền những ngày chưa nghỉ. NLĐ có dưới 12 tháng làm việc thì thời gian nghỉ hằng năm được tính theo tỷ lệ tương ứng với số thời gian làm việc. Trường hợp không nghỉ thì được thanh toán bằng tiền.
Do đó, nếu Cty bạn không thực hiện chế độ nghỉ hằng năm (nghỉ phép) đối với NLĐ là trái quy định của pháp luật. Bạn nên làm đơn khiếu nại gửi đến Ban giám đốc Cty hoặc nhờ Phòng LĐTBXH hoặc LĐLĐ cấp huyện nơi Cty đóng trụ sở can thiệp, giải quyết để bảo vệ quyền lợi. Trường hợp Cty vẫn không thực hiện, bạn có thể khởi kiện Cty ra TAND cấp huyện nơi Cty đóng trụ sở.

Đóng BHXH 31 năm, nghỉ việc được hưởng quyền lợi gì?

Bạn đọc số điện thoại 012219776XXX gọi đến số điện thoại Tư vấn pháp luật của Báo Lao Động 0961.360.559 hỏi: Tôi là giáo viên ở Quận Gò Vấp, TPHCM, đã có 31 năm đóng BHXH. Bây giờ tôi nghỉ việc thì được hưởng chế độ gì? Tôi có được hưởng BHXH một lần không?
Văn phòng Tư vấn pháp luật Báo Lao Động trả lời: Do bạn đã có 31 năm tham gia BHXH nên nếu bạn không đi định cư ở nước ngoài hay bị các bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác theo quy định của Bộ Y tế thì sẽ không đủ điều kiện nhận BHXH một lần.
Khi nghỉ việc đúng pháp luật, bạn sẽ được hưởng trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 BLLĐ. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian NLĐ đã làm việc thực tế cho NSDLĐ trừ đi thời gian NLĐ đã tham gia BHTN theo quy định của Luật BHXH và thời gian làm việc đã được NSDLĐ chi trả trợ cấp thôi việc. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo HĐLĐ của 6 tháng liền kề trước khi NLĐ thôi việc.
Ngoài ra, nếu trong vòng 15 ngày sau khi chấm dứt HĐLĐ mà bạn chưa tìm được việc làm mới, bạn có thể đến Trung tâm Dịch vụ việc làm để đăng ký thất nghiệp và hưởng trợ cấp thất nghiệp (TCTN) theo quy định tại điều 50 Luật Việc làm. Mức hưởng TCTN hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHTN của 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng tối đa không quá 5 lần mức lương cơ sở đối với NLĐ thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của BLLĐ đối với NLĐ đóng BHTN theo chế độ tiền lương do NSDLĐ quyết định tại thời điểm chấm dứt HĐLĐ hoặc hợp đồng làm việc. Thời gian hưởng TCTN được tính theo số tháng đóng BHTN, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 3 tháng trợ TCTN, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 1 tháng TCTN nhưng tối đa không quá 12 tháng.

Có 15 tháng đóng BHTN, bị từ chối hưởng TCTN có đúng luật?

Bạn đọc số điện thoại 0913464XXX từ Vĩnh Long gọi đến số điện thoại Tư vấn pháp luật của Báo Lao Động 0961.360.559 hỏi: Trước đây tôi đi làm đã đóng BHTN được hơn 3 năm. Tôi đã được nhận trợ cấp BHTN đủ 3 tháng và còn dư 4 tháng đóng BHTN chưa được nhận TCTN. Sau đó, tôi tiếp tục đi làm, HĐLĐ 1 năm và đã đóng BHTN được 11 tháng. Tổng cộng thời gian đã tham gia BHXH chưa được nhận TCTN của tôi là 15 tháng. Tôi đến Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh  để đăng ký thất nghiệp thì họ từ chối với lý do tôi không đủ điều kiện hưởng TCTN do chưa có đủ 12 tháng đóng BHTN. Việc từ chối như trên có đúng?
Văn phòng Tư vấn pháp luật Báo Lao Động trả lời: Điều 49 Luật Việc làm quy định về Điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp: NLĐ quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng BHTN được hưởng TCTN khi có đủ các điều kiện sau đây: 1. Chấm dứt HĐLĐ hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây: NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ, hợp đồng làm việc trái pháp luật; Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng. 2. Đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt HĐLĐ hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này; đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt HĐLĐ đối với trường hợp quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 43 của Luật này. Khoản 7, Điều 18 Nghị định 28/2015/NĐ-CP quy định như sau: Thời gian hưởng TCTN được tính theo số tháng đóng BHTN theo quy định tại Khoản 2 Điều 50 Luật Việc làm. NLĐ có thời gian đóng BHTN trên 36 tháng thì những tháng lẻ chưa giải quyết hưởng TCTN được bảo lưu làm căn cứ để tính thời gian hưởng TCTN cho lần hưởng TCTN tiếp theo khi đủ điều kiện hưởng TCTN theo quy định.
Như vậy, bạn đã đóng tổng cộng 15 tháng BHTN nhưng chưa hưởng TCTN. Bạn đủ điều kiện để hưởng TCTN theo quy định tại Điều 50 Luật Việc làm nếu đã nghỉ việc đúng luật, chưa tìm được việc làm mới trong thời hạn 15 ngày sau khi nghỉ việc và đã đăng ký hưởng TCTN đúng quy định. Việc từ chối không cho bạn hưởng TCTN là không đúng.

Đã nộp đủ hồ sơ nhưng chưa được hưởng chế độ thai sản, phải làm sao?

Bạn đọc số điện thoại 01232197XXX từ Thanh Hóa gọi đến số điện thoại Tư vấn pháp luật của Báo Lao Động 0961.360.559 hỏi: Tôi nghỉ sinh con và đã nộp hồ sơ đầy đủ cho Cty từ 6 tháng nay, nhưng Cty chưa trả chế độ thai sản cho tôi. Tôi phải làm sao? 
Văn phòng Tư vấn pháp luật Báo Lao Động trả lời: Về nguyên tắc, khi bạn nộp hồ sơ hưởng chế độ thai sản cho Cty, Cty sẽ nộp cho cơ quan BHXH. Cơ quan BHXH sẽ chi trả chế độ thai sản cho bạn qua Cty, Cty sẽ giao lại cho bạn. Do đó, bạn nên tìm hiểu tại cơ quan BHXH nơi Cty bạn đóng BHXH xem cơ quan BHXH đã chi trả chế độ thai sản cho bạn chưa? Nếu cơ quan BHXH đã chi trả chế độ thai sản, bạn nên đề nghị họ có giấy xác nhận để yêu cầu Cty giao lại cho mình. Nếu Cty không giao lại cho bạn, bạn có thể nhờ Phòng LĐTBXH hoặc LĐLĐ cấp huyện nơi Cty đóng trụ sở can thiệp hoặc khởi kiện Cty ra tòa để được bảo đảm quyền lợi. Trường hợp cơ quan BHXH chưa chỉ trả chế độ thai sản, bạn nên khiếu nại, đề nghị cơ quan BHXH trả lời bằng văn bản lý do chưa chi trả chế độ thai sản cho bạn.   

[QC] Đăng tin tuyển dụng, tìm việc làm nhanh, uy tín tại trang Việc Làm Báo Lao Động.

Bình luận

Vui lòng sử dụng tiếng Việt có dấu

Video xem nhiều nhất

Lời kể chấn động của thanh niên Việt bị giam cầm để trồng cần sa ở Anh